- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2019/TLST-HS ngày 31/5/2019 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN!B! TỈNH!HÀ!NAM! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2019/HSST Ngày: 19 - 6 - 2019 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CÔNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!B,!TỈNH!HÀ!NAM!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Sự và bà Dương Thị Hiền.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn - Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2019/TLST-HS ngày 31/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXXST-HS ngày 05/6/2019, đối với bị cáo:
Nguyễn!Văn!T, sinh năm 1973 tại xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Đội 5, xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Trần Thị Th (đã chết); Vợ: Trần Thị H; con: Có 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/5/2019, chuyển tạm giam từ ngày 18/5/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên tòa.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 15/5/2019, Tổ công tác của Công an huyện B phối hợp với lực lượng Công an xã N tuần tra tại đoạn đường dốc nhà văn hóa thuộc địa bàn thôn Đội 5, xã N, huyện B đã phát hiện Nguyễn Văn T đang điều khiển xe mô tô BKS 90B1 - 457.16 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Văn T tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 02 gói giấy màu trắng kẻ ô ly màu xanh, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là Heroine do T cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa Nguyễn Văn T về trụ sở UBND xã N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 02 gói giấy màu trắng kẻ ô ly màu xanh, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT và tạm giữ của Nguyễn Văn T 01 xe mô tô BKS 90B1-457.16.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 15/5/2019, T điều khiển xe mô tô BKS 90B1-457.16 đi từ nhà đến nhà đối tượng tên Th ở cùng thôn Đội 5, xã N để mua Heroine về sử dụng. Khi đến gặp Th, T hỏi mua ma túy và Th đồng ý, T đã đưa cho Th 400.000 đồng, Th nhận tiền và đưa lại cho T 02 gói giấy màu trắng kẻ ô ly màu xanh. T cầm 02 gói Heroine vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay về. Khi đi đến đoạn đường dốc nhà văn hóa thuộc địa bàn thôn Đội 5, xã N, huyện B thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 471/GĐKTHS ngày 16/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 (hai) gói giấy màu trắng kẻ ô ly màu xanh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu QT: 0,368 gam.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 30/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 1.000.000đ đến 2.000.000đ sung quỹ nhà nước; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói mẫu vật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.
[3] Về tội danh: Hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, có khối lượng 0,368g loại Heroine của bị cáo Nguyễn Văn T bị lực lượng Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang vào hồi 14 giờ ngày 15/5/2019 tại đoạn đường dốc nhà văn hóa thuộc thôn Đội 5, xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo là trụ cột trong gia đình, trong khi vợ bị cáo đi làm ăn xa, lẽ ra bị cáo phải là chỗ dựa cho các con, tu chí làm ăn, sống có ích cho gia đình và xã hội thì bị cáo lại không chịu lao động, nghiện ma túy và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Xuất phát từ tình hình tội phạm xảy ra trên địa bàn huyện Bình Lục, nhất là tội phạm về ma túy, ba ngành làm án huyện Bình Lục đã thống nhất xác định đây là vụ án trọng điểm, nhằm đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, đồng thời tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân trên địa bàn huyện. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Song xét bị cáo khai báo thành khẩn nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy tại biên bản xác minh ngày 23/5/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B thì bị cáo có tài sản là đất, nhà và một số đồ dùng sinh hoạt đã cũ tại thôn Đội 5, xã N, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, song xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên chỉ cần phạt bị cáo ở mức phù hợp, phạt bị cáo T 1.000.000đ sung quỹ nhà nước.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy loại Heroine được niêm phong trong phong bì số 471/GĐKTHS là vật cấm tàng trữ, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo xác định số ma túy trên là do bị cáo mua của đối tượng tên Th. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai của Trần Minh Th trú tại thôn Đội 5, xã N, huyện B, nhưng Th không thừa nhận đã bán Heroine cho T. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xác định đối tượng có liên quan để xử lý cũng không làm rõ được nguồn gốc số ma túy mà bị cáo cất giấu.
[9] Đối với 01 xe môtô BKS 90B1-457.16 tạm giữ của Nguyễn Văn T: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã điều tra, xác minh nhưng chưa đủ căn cứ xác định chủ sở hữu hợp pháp nên tiếp tục tạm giữ chiếc xe môtô trên để xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các khoản 2, 3 Điều 35, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 15/5/2019).
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 1.000.000đ (một triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy loại Heroine trong phong bì niêm phong mặt trước phong bì có ghi số 471/GĐKTHS. (Vật chứng được xác định tại biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 00 phút ngày 31/5/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Nam).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Công an huyện B; - UBND xã N; - Bị cáo; - Lưu HS; VP. | TM.HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa! (Đã ký) Nguyễn!Thị!Kim!Ngân! |