- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hùng C phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2019/HSPT Ngày 22 tháng 4 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Việt Tiến
Bà Nguyễn Thị Thùy Hương
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Mỹ Hạnh-Thư ký Toà án nhân dân tỉnh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thủy- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2019, Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh T, đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ L số: 15/2019/HSPT ngày29 tháng 01 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo Bùi Hùng C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2018/HSST ngày 30/11/2018 của TAND huyện N, tỉnh T.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Bùi Hùng C- sinh năm 1982 tại thành phố Việt Trì, tỉnh T; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu Liên Minh, phường Minh P, thành phố Việt Trì, tỉnh T; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Văn hoá: 7/12; Nghề ngZ: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn Q - sinh năm 1957 và Phạm Thị N, sinh năm 1958; Vợ: Phạm Thị G, sinh năm 1982; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2015;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 77 ngày 20/4/2006 của Tòa án nhân dân tHnh phố Việt Trì xử phạt Bùi Hùng C 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án hình sự sơ thẩm số 150 ngày 14/7/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt C 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm về tội “Cướp tài sản”. Chấp Hnh xong hình phạt ngày 12/01/2016.
Bị tạm giữ từ ngày 14/3/2018 đến ngày 22/3/2018 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, Hiện đang tại ngoại tại Khu Liên P, phường Minh P, tHnh phố Việt Trì, tỉnh T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 0 giờ 20 phút ngày 14/3/2018, tại phòng học lớp 4 Yổi A1, Trường mầm non xã N, huyện N, tỉnh T, tổ công tác Phòng cảnh sát hình sự - Công an tỉnh T bắt quả tang 17 đối tượng đang có Hnh vi Tổ chức đánh bạc và đánh bạc bằng hình thức sóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền, các đối tượng bị bắt giữ gồm: Đào Ngọc H; Nguyễn Quốc D; Trần Hùng C; Nguyễn Văn HA; Nguyễn Văn S; Nguyễn Tiến D; Nguyễn Vũ G; Nguyễn Duy P; Trần Hồng N; Đặng Văn C; Khuất Thị T; Hoàng Thị HA; Đỗ Văn TR; Trần Quang V; Nguyễn Xuân Y; Hoàng Thị L; Bùi Hùng C. Thu giữ trên cGếu bạc 16.700.000đồng; thu trên người các đối tượng
: 20.020.000đồng; thu tại Gện trường 30 cGếc ghế nhựa; 04 Q vị; 01 bộ đục Q bài; 02 xe ô tô và một số vật dụng khác.
Quá trình điều tra, xác định được như sau:
Tháng 3/2018, Đào Ngọc H do cần tiền tiêu xài cá nhân nên đã cùng Nguyễn Quốc D bàn bạc cùng tổ chức cho người khác đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền. H phân công như sau: H là người chịu trách nGệm tìm địa điểm đánh bạc, liên hệ với các con bạc, thuê xe ô tô để chở các con bạc đến địa điểm chơi; D là người chuẩn bị bát, đĩa, Q bài, thảm, ghế ngồi, đồng thời H phân công D là người cầm cái sóc đĩa cho các con bạc đặt cửa; các địa điểm chơi bạc không cố định, mỗi lần sẽ tổ chức ở một địa điểm khác nhau để tránh sự phát Gện của Cơ quan Công an.
Để thực Gện ý định trên, H thuê cGếc xe ô tô Toyota GACE loại 16 chỗ, biển kiểm soát 21B-002.46 của anh Dương Ngọc Tân - sinh năm 1984, ở khu 6, xã Phú Nham, huyện N, tỉnh T, H nói là để kinh doanh nhưng thực chất là sử dụng để làm P tiện đưa khách đến địa điểm đánh bạc. Ban đầu H tự lái xe, sau đó, H không trực tiếp lái mà thuê Bùi Xuân Q- sinh năm 1985 (H chỉ biết Q ở thị xã Sơn Tây-tHnh phố H Nội), có quen biết với H ngoài xã hội từ trước để lái xe và trả công cho Q; D chuẩn bị 1 số vật dụng để phục vụ việc đánh bạc như: thảm đỏ, ghế nhựa, bài, bộ đục Q bài, bát, đĩa sứ.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13/3/2018, Nguyễn Xuân Y là bảo vệ ở trường mầm non xã N, nhận được điện thoại của Nguyễn Văn Tâm- sinh năm 1976, ở khu 9, xã N, huyện N nhờ Y cho mượn 01 phòng ở trường mầm non xã N do Y là bảo vệ để đánh bạc, do nể nang Tâm là người quen biết nên Y đồng ý với Tâm, do vậy, Y đã mở phòng học lớp 4 Yổi A1, mở cửa cổng để các đối tượng đến đánh bạc; sau đó quay ra phòng bảo vệ nghỉ.
Khoảng 21 giờ ngày 13/3/2018, Đào Ngọc H thuê Q điều kGển cGếc xe ô tô Toyota GACE loại 16 chỗ, BKS 21B-002.46 đến đón các con bạc quanh tHnh phố Việt Trì đến địa điểm đánh bạc. Cụ thể: Q đón Nguyễn Văn HA, Nguyễn Văn S, Nguyễn Tiến D ở Quảng trường Hùng Vương tHnh phố Việt Trì; đón Trần Hùng C ở ngã 4 Hòa Phong; đón Nguyễn Vũ G, Nguyễn Duy P ở ngã 3 Vân Cơ, tHnh phố Việt Trì; đón Trần Hồng N ở ngã 3 Phù Lỗ, huyện N; đón Đặng Văn C ở khu Thị Tứ, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao; Q tiếp tục lái xe đi đến khu 2B- xã Phú Nham đón Khuất Thị T trú tại khu 9 xã N; đón Hoàng Thị HA và Đỗ Thị Hoa Đào- sinh năm 1974, trú tại tổ 25, phố Hồng H 2, phường Bến Gót ở khu vực bãi chọi trâu xã N (HA và Đào đón xe taxi đến địa điểm đón). Sau đó, tất cả được Q đưa đến trường mầm non xã N, huyện N để đánh bạc.
Riêng Đỗ Văn TR; Hoàng Thị L; Trần Quang V; Bùi Hùng C tự đi từ nH đến trường mầm non xã N để đánh bạc.
Khoảng 22 giờ các đối tượng đến đại điểm đánh bạc, D lấy các vật dụng trên xe ô tô 16 chỗ đã chuẩn bị từ trước gồm: 01 thảm đỏ, 30 cGếc ghế nhựa, 01 bộ đục Q bài, 01 bộ bài tú lơ khơ loại 52 Q, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, đem vào lớp học đã được mở sẵn; Nguyễn Tiến D là người đục Q vị để đảm bảo khách quan; D trải thảm đỏ ở giữa, xếp ghế nhựa tHnh Hng ở hai bên thảm. Sau đó các con bạc ngồi vào hai Hng ghế để chơi bạc. Trong số các đối tượng bị bắt thì Đào Ngọc H, Trần Hùng C không chơi; D là người cầm cái, C được H nhờ thu tiền phế của các con bạc , mỗi người từ 200.000đ đến 300.000đ.
Các đối tượng thống nhất cách thức chơi sóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền như sau: Người cầm cái sử dụng 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và 04 Q vị hình tròn (được cắt từ 04 Q bài loại 52 cây) để làm dụng cụ đánh bạc. Người cầm cái cho 04 Q vị vào đĩa, úp bát lên đĩa, cầm sóc lên nGều lần rồi để bát và đĩa xuống cGếu bạc giữ nguyên vị trí bát úp trên đĩa. Lúc này, những người chơi bạc sẽ tự đặt tiền vào cửa chẵn hoặc cửa lẻ (mỗi ván đặt từ 100.000đ-500.000đ). Sau kG người chơi đặt tiền xong thì người cầm cái mở bát, nếu trên đĩa có 2 hoặc 4 Q vị có mặt ngửa lên cùng màu thì cửa chẵn thắng, nếu 1 hoặc 3 Q vị ngửa lên cùng màu thì cửa lẻ thắng, người chơi đặt trúng cửa nào thì ván đó thắng, tỷ lệ cá cược là 1:1; Người cầm cái không đánh mà điều kGển cho các con bạc đánh với nhau.
Sau kG thống nhất cách chơi, các đối tượng cùng ngồi đánh bạc từ khoảng 22 giờ 30 phút ngày 13/3/2018, đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 14/3/2018 thì bị lực lượng Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh T bắt quả tang như đã nêu trên.
Các đối tượng khai số lượng tiền như sau:
1. Đào Ngọc H khai có đem theo 50.000.000đ mục đích để cho các con bạc vay, nhưng chưa cho ai vay thì bị bắt. Quá trình vây bắt, Hà đã làm rơi số tiền trên, Cơ quan điều tra không thu được số tiền này;
2. Nguyễn Quốc D thu trên người 2.000.000đ, nhưng không có mục đích đánh bạc, chỉ làm nGệm vụ cầm cái như H phân công;
3. Trần Hùng C không đem theo tiền, là người thu phế hộ cho H;
4. Đặng Văn C có 1.200.000đ, C nộp phế cho C 200.000đ, thua bạc 1.000.000đ; thu trên người: 0đ;
5. Nguyễn Văn S có 2.700.000đ, S nộp phế 200.000đ, thắng bạc 600.000đ, thu trên người 3.100.000đ;
6. Nguyễn Tiến D có 12.000.000đ, D nộp phế 300.000đ, thua bạc 6.400.000đ, thu trên người 5.300.000đ;
7. Bùi Hùng C có 10.000.000đ, nộp phế 300.000đ, thua 6.700.000đ, thu trên người 3.000.000đ;
8. Nguyễn Duy P có 2.500.000đ, nộp phế 200.000đ, thua 2.300.000đ, thu trên người: 0đ.
9. Nguyễn Vũ G có 1.500.000đ, không nộp phế, thua 1.500.000đ, thu trên người: 0đ.
10. Đỗ Văn TR có 5.000.000đ, nộp phế 200.000đ, thua bạc 2.800.000đ, thu trên người: 2.000.000đ;
11. Hoàng Thị HA có 5.000.000đ, nộp phế 200.000đ, thua bạc: 1.800.000đ, thu trên người 3.000.000đ;
12. Hoàng Thị L có 4.000.000đ, nộp phế 300.000đ, thua bạc 3.700.000đ, thu trên người: 0đ;
13. Khuất Thị T có 1.200.000đ, không nộp phế, thua bạc 700.000đ, thu trên người 500.000đ;
14. Trần Hồng N có 2.520.000đ, không nộp phế, thua bạc 400.000đ, thu trên người 2.120.000đ;
15. Trần Quang V có 1.800.000đ, nộp phế 200.000đ, thua bạc 600.000đ, thu trên người 1.000.000đ;
16. Nguyễn Văn HA có 2.800.000đ, nộp phế 200.000đ, thua bạc 1.600.000đ, thu trên người: 1.000.000đ.
17. Nguyễn Xuân Y không chơi bạc nhưng cho các đối tượng mượn địa điểm do mình quản L để đánh bạc và không thu tiền.
Số tiền thu trên người các đối tượng tham gia chơi bạc là: 23.020.000đ.
Như vậy, tổng số tiền thu trên cGếu bạc và tổng số tiền thu trên người các đối tượng là: 39.720.000đ; tổng số tiền C thu phế được là 2.400.000đ, chưa đưa cho H đã bị bắt nên C bỏ chạy và mang theo tiền trên. Ngày 21/3/2018, C đã ra đầu thú và tự nguyện nộp số tiền trên cho Cơ quan điều tra.
Theo lời khai các đối tượng thì tổng số tiền các đối tượng đem theo mục đích để đánh bạc là: 52.220.000đ, nGều hơn so với tổng số tiền thu được trên cGếu bạc và thu trên người của các đối tượng. Yy nGên, do quá trình vây bắt các đối tượng bỏ chạy, một số đối tượng đánh bạc không bắt được, quá trình điều tra không xác định được danh tính người bỏ trốn, kG chơi bạc có người thắng, người thua nên không đủ cơ sở quy kết tổng số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc là 52.220.000đ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2018/HSST ngày 30/11/2018 của TAND huyện N, tỉnh T đã: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hình sự. Yyên bố bị cáo Bùi Hùng C phạm tội “Đánh bạc”.
Xử pha ̣t: Bùi Hùng C 09 (Chín) tháng tù, được khấu trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ (từ ngày 14/3/2018 đến ngày 22/3/2018). Thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày bắt t hi hành
́ án.
Không áp du ̣ng hinh phạt bổ sung đối với bị cáo.
̀
Ngoài ra bản án còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác, về phần án phí, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 29/10/2018, Bị cáo Bùi Hùng C kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin cải tạo ngoài xã hội. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại pGên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 66/2018/HSST ngày 30/11/2018 của TAND huyện N, tỉnh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại pGên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của Bùi Hùng C trong hạn luật định được xem xét giải quyết.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và pGên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận đã có hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các bị cáo khác, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ cho rằng:
Đêm ngày 13, rạng sáng ngày 14/3/2018, tại phòng học lớp 4 Yổi A1, thuộc trường mầm non xã N, huyện N, Nguyễn Xuân Y là bảo vệ của trường, có nhiệm vụ trông coi, quản L trường học đã đồng ý cho Đào Ngọc H và Nguyễn Quốc D tổ chức sới bạc để các đối tượng Đặng Văn C, Nguyễn Văn S, Nguyễn Tiến D, Bùi Hùng C, Nguyễn Duy P, Nguyễn Vũ G, Đỗ Văn TR, Hoàng Thị HA, Hoàng Thị L, Khuất Thị T, Trần Hồng N, Trần quang V, Nguyễn Văn HA đánh bạc với nhau bằng hình thức sóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền; đồng thời, H nhờ Trần Hùng C thu tiền phế và giữ trật tự, không để các đối tượng trong sới bạc đánh nhau. Đến 00 giờ 20 phút ngày 14/3/2018, bị tổ công tác Phòng cảnh sát hình sự - Công an tỉnh T bắt quả tang; thu giữ trên chiếu bạc 16.700.000đ; Thu trên người các đối tượng: 23.020.000đ và nGều vật dụng khác phục vụ cho việc đánh bạc; Bị cáo Bùi Hùng C đã sử dụng 10.000.000đ để tham gia đánh bạc.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, không oan, phù hợp với quy định của pháp luât.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết, chứng cứ nào mới để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Về nhân thân, bị cáo đã bị kết án 02 lần về Hành vi trộm cắp tài sản và hành vi cướp tài sản. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, tích cực lao động, rèn luyện phấn đấu trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Yyên phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh T tại phiên tòa phù hợp nên chấp nhận.
Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Bùi Hùng C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị; Hội đồng xét xử không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của Bùi Hùng C. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 66/2018/HSST ngày 30/11/2018 của TAND huyện N, tỉnh T.
[2]Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.
̀
Yyên bố bị cáo Bùi Hùng C phạm tội: “Đánh bạc”
Xử phạt: Bùi Hùng C 09 (Chín) tháng tù, được khấu trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ (từ ngày 14/3/2018 đến ngày 22/3/2018). Thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày bắt thi hành
́ án.
Không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo.
̀
[3] Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án..
Bị cáo Bùi Hùng C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Yyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh T; - CA, TA, VKS, THADS N; - PV 27 CA tỉnh PT; - Thông báo UBND phường Minh P; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PGÊN TÒA Đỗ Ngọc Tuấn |