- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bạc cầm Sơn - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bạc Cầm Sn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA –––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2019/HS-ST Ngày 28-6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Ó và ông Đinh Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Hòa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo: Bạc Cầm Sn, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1997 tại Thuận Châu - Sơn La; nơi cư trú: bản N B, xã Chng L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bạc Cầm Th; con bà: Bạc Thị D; Tiền án: ngày 12/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 08/02/2018 được giảm án tha tù trước thời hạn; tiền sự: không; nhân thân: nghiện ma túy; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21 tháng 3 năm 2019 đến nay, “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Mùi Đức Huy, sinh năm 1974, nơi cư trú: khối 8, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “vắng mặt”.
- Người làm chứng: anh Bạc Cầm Ng, sinh năm 1995; địa chỉ: bản Nà Bon, xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 21/3/2019, Bạc Cầm Ng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 26F3-3888 chở Bạc Cầm Sn cùng đi lên khu vực đồi Pu Nìm (đồi sim) thuộc xã Huy Bắc, huyện Phù Yên mục đích để trao đổi ma túy với người đàn ông tên Tùng mà Ng đã hẹn trước đó. Khi đến điểm hẹn, Tùng đưa cho Ng một gói ma túy để trừ vào khoản tiền 300.000đồng Tùng còn nợ Ng. Sau khi có ma túy, Ng và Sn cùng nhau sử dụng một phần. Phần còn lại, Ng gói lại và đưa cho Sn giữ rồi Ng điều khiển xe mô tô chở Sn đi về. Trên đường về thì bị Công an phát hiện bắt giữ.
Tại biên bản mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định xác định (Bút lục số 06): Vật chứng thu giữ của Bạc Cầm Sn là 01 gói chất bột màu trắng có tổng khối lượng là 0,081 gam. Cơ quan điều tra đã lấy 0,034 gam (ký hiệu N) gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 655 ngày 24/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận (Bút lục số 08): Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy, loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,034 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,081 gam, loại Heroine. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận của Cơ quan điều tra và của Phòng kỹ thuật hình sự nêu trên.
Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 30/CT – VKS - PY ngày 22/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Bạc Cầm Sn về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Bạc Cầm Sn đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Kết thức việc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Hành vi của bị cáo Bạc Cầm Sn đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bạc Cầm Sn từ 12 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,047 gam Heroine vật chứng còn lại sau giám định; Chấp nhận cơ quan điều tra trả cho anh Mùi Đức Huy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Future, BKS: 26F3 - 3888, số máy 0244260, số khung 244499.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bạc Cầm Sn nhất trí với quyết định truy tốvà luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Mùi Đức Huy có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa. Trong đơn đề nghị gửi tòa án, anh Huy xác nhận chiếc xe môt tô biển kiểm soát: 26F3 – 3888 là tài sản thuộc quyền sở hữu của mình và được sử dụng làm phương tiện để nhân viên đi mua thực phẩm phục vụ việc kinh doanh của gia đình. Việc bị cáo Bạc Cầm Sn sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy, anh Huy không được biết. Anh Mùi Đức Huy đề nghị được nhận lại chiếc xe môt tô nêu trên.
Kết thúc tranh luận, bị cáo nói sau cùng. Trong lời nói sau cùng, bị cáo Sn có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Bạc Cầm Sn khai nhận hành vi cất giấu Heroine để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo tiểu mục 3.1, mục 3, phần II của Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì “Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này”.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”.
Kết quả cân tịnh và giám định vật chứng xác định: Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,081gam,loại Heroine. Khối lượng Heroine bị cáo Sn cất giấu trái phép là dưới mức tối thiểu (0,1 gam) để truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, do bị cáo đã bị kết án 12 tháng tù về tội “Tàng trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích (Tại bản án số: 95/2017/HSST ngày 12/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). Cho nên, hành vi cất giấu trái phép 0,081gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng của Bạc Cầm Sn đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện ma túy, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội.
Bị cáo làm nghề lao động tự do, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bản thân nhiều năm nghiện ma túy. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,…” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn (Bút lục số 33). Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với nilon gói ma túy và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, xác định là vật chứng, vật không có giá trị; đối với vật chứng còn lại của Bạc Cầm Sn, (ký hiệu N1) có khối lượng là 0,047 gam Heroine, xác định là công cụ phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ vào Điều 89; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát: BKS: 26F3 - 3888, xác định là tài sản của anh Mùi Đức Huy. Chiếc xe là phương tiện giao thông của gia đình, việc bị cáo sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua ma túy anh Huy không được biết. Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe cho anh Huy là đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Đối với Bạc Cầm Ng, mục đích cất giữ ma túy là để sử dụng, chưa có tiền án, tiền sự, khối lượng ma túy cất giấu dưới 0,1 gam. Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với Ng là đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Đối với người thanh niên tên Tùng đã bán ma túy cho bị cáo. Bị cáo không biết họ, tên đầy đủ cũng như địa chỉ của Tùng ở đâu. Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý.
Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bạc Cầm Sn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bạc Cầm Sn 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 3 năm 2019 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 0,047gam Heroine vật chứng còn lại sau giám định; giấy gói ma túy và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu (đựng trong phong bì do Công an huyện Phù Yên niêm phong).
Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an huyên Phù Yên trả lại cho anh Mùi Đức Huy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Future, BKS: 26F3 - 3888, số máy 0244260, số khung 244499.
3. Về án phí: Bị cáo Bạc Cầm Sn phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/6/2019). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại (nếu có); - VKSND huyện Phù Yên; Giao - Người bào chữa (nếu có); - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra- CA huyện ; - CQ Thi hành án hình sự; Gửi - Trại TG (nhà tạm giam); - Sở tư pháp tỉnh; - Người có QL,NVLQ (nếu có); - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực); - Lưu: HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |