- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2019/HS-ST Ngày 14 tháng 5 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN – TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Kiều Anh
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Phùng Quốc Quân
Ông Nguyễn Đức Việt
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2019/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Hà Văn T. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1975 tại huyện Mai Sơn, T Sơn La. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản M, xã L, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 02/12. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hà Văn K (đã chết) và con bà: Hà Thị O, sinh năm 1940. Bị cáo chung sống như vợ chồng với Hà Thị H, sinh năm 1980 và có 03 con chung, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2001; từ năm 2010, bị cáo chung sống như vợ chồng với Hà Thị V và có 01 con chung sinh năm 2010.
Tiền án: 01 tiền án tại bản án số 98/HSST ngày 28/10/2004 Hà Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (Hiện bị can chưa thực hiện việc bồi thường cho người bị hại).
Tiền sự: 01 tiền sự tại quyết định số 94/2016/QĐ-TA ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, T Sơn La, Hà Văn T bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2019, giam tại Trại tạm giam Công an T Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/01/2019, Hà Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel, biển kiểm soát 28F4-2996 đi từ nhà ở thuộc Bản M, xã L, huyện Mai Sơn đến bản T, xã N, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La để đón con trai là Hà Văn T2, sinh năm 2001 đang đi làm thuê. Sau khi đón được Hà Văn T2, T điều khiển xe chở T2 đi về. Trên đường về khi đi qua bản T, xã N, T nảy sinh ý định tìm mua heroine để sử dụng cho bản thân. Sau đó T dừng xe và bảo T2 đứng đợi rồi đi bộ vào trong bản T tìm mua heroine. Khi đi đến đoạn đường đất thuộc bản T thì gặp một người đàn ông không quen biết. T hỏi mua 120.000VNĐ heroine và đưa tiền. Người đàn ông cầm tiền và lấy trong người ra 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa heroine đưa cho T. T cầm gói heroine vừa mua được cất vào túi áo đang mặc quay lại vị trí T2 đứng đợi rồi tiếp tục điều khiển xe chở T2 đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ 30 phút, khi đi được khoảng 500m, Hà Văn T bị tổ công tác Công an xã N, huyện Mai Sơn, T Sơn La đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã N, huyện Mai Sơn, T Sơn La phát hiện có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã áp sát dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại túi áo bên trái của T đang mặc 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là heroine, T khai là gói heroine của T mua của một người đàn ông không quen biết tại bản T, xã N, huyện Mai Sơn với giá 120.000VNĐ để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra đối với đối tượng Hà Văn T2, không phát hiện vật chứng nghi là ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hà Văn T và niêm phong vật chứng nêu trên. Kiểm tra thu giữ 01 xe mô tô hiệu SYM Angel biển kiểm soát 28F4-2996.
Ngày 07/01/2019, Công an huyện Mai Sơn phối hợp cùng phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La cân tịnh gói vật chứng khi bắt quả tang Hà Văn T, kết quả chất bột nén màu trắng trong gói nilon màu xanh có khối lượng 0,14 gam, trích rút toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu M.
Ngày 10 /01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 201, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma tuý; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,14 gam, loại heroine”.
Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 24/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 14 đến 16 tháng tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu cùng mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu.
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel biển kiểm soát 28R4-2996, số máy HB 046593, số khung ADNFM 90B46593 cho bị cáo Hà Văn T.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn T tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hà Văn T khai nhận: Bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 06/01/2019, Hà Văn T đã mua trái phép 120.000VNĐ Heroine để sử dụng cho bản thân và bị tổ công tác Công an xã N, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang thu giữ 0,14 gam Heroine.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 30 phút ngày 06/01/2019 của tổ công tác Công an huyện Mai Sơn, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn; phù hợp với kết luận giám định số 201 ngày 10/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn.
Như vậy, với việc tàng trữ tổng số 0,14gam Heroine, mục đích để sử dụng đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hà Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 24/4/2019 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích được thể hiện tại bản án số 98/HSST ngày 28/10/2004 Hà Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, T Sơn La 09 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (Hiện bị can chưa thực hiện việc bồi thường cho người bị hại). Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo khi lượng hình. Ngoài ra, bị cáo còn bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng theo quyết định số 94/2016/QĐ-TA ngày 21/9/2016.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo khi lượng hình.
Từ sự nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, từ đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật bao đầu, không còn giá trị sử dụng và mảnh nilon gói ma túy ban đầu là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần được tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 xe mô tô hiệu SYM Angel biển kiểm soát 28F4-2996 thu giữ khi bắt quả tang bị cáo T. Qua điều tra xác minh xác định: Chiếc xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo, không trực tiếp sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Về nguồn gốc số ma túy, Hà Văn T khai mua của một người đàn ông không quen biết tại bản T, xã N, huyện Mai Sơn, T Sơn La. Việc mua bán không có ai biết, chứng kiến. Do đó, cơ quan CSĐT Công an huyện Mai Sơn không có cơ sở để điều tra, xử lý.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Hà Văn T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/01/2019).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu cùng mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu được niêm phong theo quy định.
Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel biển kiểm soát 28R4-2996, số máy HB 046593, số khung ADNFM 90B46593 cho bị cáo Hà Văn T.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Hà Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 14/5/2019).
| Nơi nhận: - Sở tư pháp T Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Công an huyện Mai Sơn; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Bùi Thị Kiều Anh |