- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đào Thi Th - Phạm Văn h"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Th.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 31/2019/DS-ST. Ngày: 01-10-2019 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Toàn.
Các hội thẩm nhân dân:
1.Bà Trần Thị Phúc.
2.Bà Lê Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét sử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2019/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXX-DS ngày 20 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2019/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đào Thị Th, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Số nhà 241, đường L, tổ dân phố M, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn S, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Số nhà 56, đường P, tổ dân phố M, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
(Văn bản ủy quyền ngày 24-4-2019)
Bị đơn: Vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th.
Địa chỉ: Số nhà 269, đường L, tổ dân phố M, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
( Ông Đinh Văn S có mặt, vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời kH của bà Đào Thị Th và lời trình bày tại phiên tòa ông Đinh Văn S là người đại diện theo ủy quyền của bà Đào Thị Th trình bày:
Từ năm 2017 bà Đào Thị Th có cho vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th vay tiền nhiều lần tổng số tiền vay là 140.000.000 đồng, khi vay H bên thỏa thuận miệng lãi suất 3%/ tháng, thời hạn thanh toán cuối năm 2017 sẽ trả. Quá trình vay và khi đến hạn vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th chưa thanh toán tiền gốc và tiền lãi. Đến ngày 19-01-2018, ông Phan Văn H viết giấy nhận nợ và hẹn thời gian trả nợ là 1 năm nhưng cho đến nay vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th vẫn chưa thanh toán tiền gốc và tiền lãi mặc dù bà Đào Thị Th yêu cầu rất nhiều lần.
Nay yêu cầu vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th cùng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Đào Thị Th số tiền gốc 140.000.000 đồng không yêu cầu tiền lãi.
Về tài liệu chứng chứng chứng minh là 03 tài liệu có nội dung chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th nợ tiền do vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th ký nhận.
Đối với bị đơn vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th: Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã triệu tập hợp lệ nhiều lần vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th đến Tòa án nhân dân huyện Di Linh nhưng đều vắng mặt; Tòa án dân huyện Di Linh cùng với chính quyền địa phương đã đến tận nhà vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th để làm việc tuy nhiên không ghi lời kH được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Th buộc vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th có nghĩa vụ thanh toán cho bà Đào Thị Th số tiền gốc 140.000.000 đồng. Vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Đào Thị Th theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ H nhưng vẫn vắng mặt là đã tự mình từ bỏ quyền được trình bày ý kiến và đưa ra tài liệu chứng cứ để chứng minh bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện bà Đào Thị Th xác định vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th vay số tiền 140.000.000 đồng, thời hạn thanh toán là trả dần trong năm 2018 nhưng chưa trả. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà Đào Thị Th với vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản là đúng quy định của pháp luật.
Về thời hiệu: Theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo thể hiện vào ngày 19 tháng 01 năm 2018, ông Phan Văn H viết giấy công nhận nợ bà ĐàoThị Th số tiền 140.00.000 đồng, thời hạn thanh toán là là trả dần trong năm 2018. Ngày 18 tháng 01 năm 2019, bà Đào Thị Th nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định yêu cầu của bà Đào thị Th còn trong thời hiệu.
Về nội dung tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của bà Đào Thị Th thể hiện từ năm 2017 vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th có vay của bà Đào Thị Th 05 lần với số tiền là 140.000.000 đồng, thời hạn thanh toán là cuối năm 2017, đến ngày 19-01-2018 ông Phan Văn H viết giấy nhận nợ và hẹn thời gian trả nợ là 1 năm (năm 2018). Việc vay tiền được vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th ký nhận như vậy bà Đào Thị Th khởi kiện là có cơ sở cần áp dụng Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015 buộc vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th có nghĩa vụ thanh toán cho bà Đào Thị Th số tiền vay gốc 140.000.000 đồng là có căn cứ.
Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Yêu cầu của bà Đào Thị Th được chấp nhận nên vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm của số tiền 140.000.000 đồng x 5% = 7.000.000 đồng là phù hợp.
Trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Đào Thị Th 3.500.0000 đồng theo biên lai thu số AA/2016/0009450 ngày 22 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144, Điều 147, Bộ luật tố tụng Dân sự, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Th. Buộc vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th có nghĩa vụ thanh toán cho bà Đào Thị Th số tiền gốc 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
2. Về án phí:
Vợ chồng ông Phan Văn H, bà Phan Thị Thu Th chịu 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Đào Thị Th nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.500.000 ba triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2016/0009450 ngày 22 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Đương sự; - VKSND huyện D; - Chi cục THADS huyện D; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Toàn |