- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2018/HSST Ngày: 27/9/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Văn Quản
2. Bà Dương Thị Thắm
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2018/HSST ngày 24/8/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 tại: Xóm 2, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 4/12; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Vũ Thị L (đã chết); gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2018 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Nghiêm Văn B - Sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm 3, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt);
2. Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1980; địa chỉ: Xóm 2, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt);
3. Nguyễn Thị N - Sinh năm: 2003; địa chỉ: Xóm 2, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt);
4. Phạm Văn H1 - Sinh năm: 1962; địa chỉ: Thôn Đồng Nội, xã Nga L, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt);
5. Mai Thị H2 - Sinh năm: 1947; địa chỉ: Xóm 8, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt);
6. Lưu Thị T1 - Sinh năm: 1950; địa chỉ: Xóm 3, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:
Khoảng 09h 50 phút, ngày 18/5/2018, sau khi nhận được tin tố giác của quần chúng nhân dân về một số đối tượng có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy đang lưu thông trên đường tỉnh lộ 508 từ huyện Hà Trung về huyện Nga Sơn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn đã phát hiện Nguyễn Văn T điều khiển xe Attila, BKS 63X8-0400, chở Nghiêm Văn B trên đường tỉnh lộ 508, thuộc xóm 8, xã Nga T, huyện Nga Sơn có nghi vấn. Qua kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Văn T cất giấu ở ống quần bên trái 01 túi nilon màu trắng, kích thước 01cm x01cm, bên trong chứa chất màu trắng, dạng tinh thể.
Vật chứng thu giữ của bị cáo T gồm: 01 túi nilon màu trắng, kích thước (01cm x01cm), bên trong chứa chất màu trắng, dạng tinh thể; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu hồng nhạt, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Attila, BKS 63X8-0400
Quá trình điều tra, bị cáo T khai nhận: do nghiện ma túy nên vào ngày 18/5/2018, bị cáo từ nhà đến thị trấn Nga Sơn, gặp và chở Nghiêm Văn B đến thị trấn L, huyện Hà Trung để B uống thuốc Methaldone.Trên đường trở về, B có nhét ma túy vào quần của bị cáo, nhưng bị cáo không có ý kiến gì. Khi đi đến địa phận xóm 8, xã Nga T, huyện Nga Sơn thì bị Công an huyện Nga Sơn bắt quả tang, khám xét và thu giữ tang vật bị cáo cất giấu ở gấu quần.
Số ma túy (loại Methamphetamine) T khai do B đưa, nhưng không có cơ sở chứng minh và cũng không biết nguồn gốc T lấy từ đâu. Do đó, không đủ căn cứ truy tố Nghiêm Văn B đồng phạm với T về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ngày 18/5/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định.
Ngày 21/5/2018, tại kết luận giám định số 1013/MT-PC54 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất màu trắng, dạng tinh thể bên trong túi nilon trắng, kích thước (1x 1) cm thu giữ trên người của Nguyễn Văn T là ma túy, có khối lượng là 0,246g (không phẩy hai bốn sáu gam) loại Methamphetamine.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu hồng nhạt, đã qua sử dụng là của con bị cáo (Nguyễn Thị Nh) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng là của bị cáo, Công an đã thu giữ. Nhưng bị cáo không sử dụng để liên lạc trong quá trình phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chị H (Vợ bị cáo và là người giám hộ cho cháu Nh) là phù hợp quy định. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Attila, BKS 63X8-0400SUZUKI VIVA, đã cũ, bị cáo T dùng xe làm phương tiện phạm tội, đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ. Do đó, cần xem xét để xử lý theo quy định.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nga Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn T theo cáo trạng số 30/CT- VKSNS-MT ngày 22/8/2018 về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và đề nghị HĐXX áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 đến 24 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/5/2018.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T, Ngô Thanh S và các hình con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong là 0,221g (không phẩy hai hai một gam) chất màu trắng dạng tinh thể còn lại sau giám định.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila, BKS 63X8-0400SUZUKI VIVA, đã cũ, do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến tranh luận với VKS, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp, để bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
.Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: bị cáo không nghiện ma túy. Vào sáng ngày 18/5/2018, bị cáo chở Nghiêm Văn B đến thị trấn L, huyện Hà Trung để uống thuốc Methaldone. Trên đường về Nga Sơn, B có nhét ma túy vào quần của bị cáo, bị cáo đồng ý và không có phản ứng gì. Khi đến địa phận xóm 8, xã Nga T thì bị cơ quan điều tra Công an huyện Nga Sơn, kiểm tra và bắt quả tang. Thu giữ trên người bị cáo T 01 túi nilon màu trắng, kích thước 01cm x01cm, bên trong chứa chất màu trắng, dạng tinh thể có khối lượng 0,246g (không phảy hai bốn sáu gam) loại Methamphetamine. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tang vật đã thu giữ cũng như kết luận giám định xác định các đối tượng gửi giám định loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo nhận biết ma túy là hiểm họa của loài người, làm tiêu tốn tiền của, phá hoại sức khỏe, ảnh hưởng đến phát triển nòi giống và còn là nguyên nhân phát sinh các hành vi phạm pháp khác. Thế nhưng, bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ ma túy; điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T, Ngô Thanh S và các hình con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong là 0,221g (không phẩy hai hai một gam) chất màu trắng dạng tinh thể còn lại sau giám định.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila, BKS 63X8-0400SUZUKI VIVA, đã cũ, mà bị cáo T sử dụng đi phạm tội.
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 18(mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/5/2018.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T, Ngô Thanh S và các hình con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong là 0,221g (không phẩy hai hai một gam) chất màu trắng dạng tinh thể còn lại sau giám định, loại Methamphetamine.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila, BKS 63X8-0400SUZUKI VIVA, đã cũ, do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
( Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/8/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS, Bị cáo T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nga Sơn; - Bị cáo; - Phòng GĐ-KT Toà án tỉnh; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - Lưu hồ sơ vụ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Dương Thị Thắm Nguyễn Văn Quản | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Huệ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Huệ |