- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L bị xét xử về tội " tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2018/HS-ST Ngày 30 tháng 7 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Sỹ Lượng.
2. Ông Nguyễn Khắc Đức.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đăng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/QĐXXST-HS ngày 16/7/2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L - Tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 10 năm 1981, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Khối A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức L - sinh năm 1955 và bà Cao Thị T - sinh năm 1958; vợ: Trần Thị N - Sinh năm 1986 và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/6/2002 bị Toà án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 9 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 48/HSST, chấp hành xong ngày 21/12/2002; ngày 28/8/2003 bị Toà án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 58/HSST, thi hành xong ngày 14/5/2007; Ngày 29/8/2003 bị Toà án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 60/2003/HSST, thi hành xong ngày 14/5/2007; Ngày 24/12/2008 bị Toà án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 126/2008/HSST, thi hành xong ngày 02/10/2010; Ngày 06/3/2014 bị Toà án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án số 25/2014/HSST, thi hành xong ngày 09/3/2016; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2018 đến nay (có mặt).
- Người làm chứng: Anh Cao Bá K - Sinh năm 1995.
Trú tại: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Vào khoảng 0 giờ 15 phút ngày 27/3/2018, Nguyễn Văn L đi từ nhà tại khối 2, thị trấn D, huyện D đến khu vực cầu D xã D, huyện D, Nghệ An thì hỏi mua được của một người đàn ông thường gọi là “Đ” ( L không biết tên tuổi, địa chỉ) 02 (hai) gói ma tuý tổng hợp với giá 7.000.000đ (bảy triệu đồng) được gói trong bao ni lông trong suốt, kích thước mỗi gói 4cm x 7cm. Sau khi mua được hai gói ma tuý thì Nguyễn Văn L cất giấu vào túi quần trước phía bên phải đang mặc rồi gọi điện thoại cho anh Cao Bá K nhờ anh K chở lên thị xã T chơi. Sau đó anh K đi xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, màu đỏ đen, mang BKS: 37F1 - 6xx đến chở Nguyễn Văn L lên thị xã T. Đến khoảng 2 giờ 10 phút cùng ngày khi cả hai đang đi xe máy trên quốc lộ 48 đến khu vực xã Đ, thị xã T thì bị tổ công tác đội CSGT 1.48 (phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Nghệ An) kiểm tra. Quá trình kiểm tra lực lượng công an phát hiện trong túi quần phía bên phải Nguyễn Văn L đang mặc có 02 (hai) gói hạt tinh thể trong suốt (Nguyễn Văn L khai nhận là ma tuý tổng hợp dạng đá). Tổ công tác đội CSGT 1.48 đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong, thu giữ vật chứng và bàn giao cho cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hoà.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 27/3/2018 của cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hoà xác định: Hạt tinh thể trong suốt trong 02 (hai) gói thu được của Nguyễn Văn L có khối lượng là 7,61 (bảy phẩy sáu mươi mốt gam), sau khi đã loại bỏ bao bì.
Tại kÕt luËn gi¸m ®Þnh sè 444/KL-PC54 (MT) ngµy 01/4/2018 cña Phßng kü thuËt h×nh sù C«ng an tØnh NghÖ An, kÕt luËn: Các hạt tinh thể trong suốt thu giữ của Nguyễn Văn L gửi tới giám định đều là ma tuý tổng hợp (Methamphetamine).
Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 08 tháng 7 năm 2018, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 - BLHS.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 - BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 06 (sáu) đến 07 (bảy) năm tù.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp lái xe nhưng thu nhập thấp nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư hình chữ nhật kích thước 10cm x 18cm đã được niêm phong bên trong có chứa 5,61gam Methamphetamine thu của Nguyễn Văn L.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 02 giờ 20 phút ngày 27 tháng 3 năm 2018, tại km 28 + 600 Quốc lộ A thuộc xóm Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An cùng vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã xác định được: Khoảng 2 giờ 20 phút, 27 tháng 3 năm 2018, tại km 28 + 600 Quốc lộ A thuộc xóm Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An tổ công tác đội CSGT 1.48 thuộc Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Nghệ An bắt quả tang Nguyễn Văn L tàng trữ 02 (hai) gói ma tuý tổng hợp (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 7,61g (bảy phẩy sáu mươi mốt gam) nên hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 - BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây tác hại cho sức khỏe của con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân gây ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi “tàng trữ trái phép chất ma tuý” của mình là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy việc đưa vụ án ra xét xử công khai kịp thời là cần thiết, góp phần trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy nên cần xét xử nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo là đối tượng có nhân thân rất xấu, đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tự răn đe, giáo dục, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng xem thường pháp luật nên cần xét xử nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp lái xe nhưng thu nhập thấp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Một phong bì thư hình chữ nhật kích thước 18cm x 10cm bên trong chứa 5,61gam Methamphetamine thu của Nguyễn Văn L, (số còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định) cần tịch thu, tiêu huỷ theo điểm a khoản 2 điều 106 - BLTTHS.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen BKS 37F1 - 6xx mà anh K đã chở bị cáo lên thị xã T ngày 27/3/2018. Quá trình điều tra xác định được chiếc xe trên anh K mượn của ông Cao Bá D (bố của K) nhưng ông D không biết K mượn xe đi đâu, làm gì, do đó Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hoà đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu đúng quy định nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Nguyễn Văn L tại khu vực cầu D, huyện D vào ngày 27/3/2018, do không xác định được lai lịch và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Cao Bá K là người chở Nguyễn Văn L lên thị xã T nhưng K không biết L tàng trữ trái phép chất ma tuý nên K không phạm tội.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 - BLHS:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27/3/2018.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Tịch thu, tiêu huỷ một phong bì thư hình chữ nhật kích thước 18cm x 10cm đã được niêm phong bên trong có chứa 5,61gam Methamphetamine thu của Nguyễn Văn L (số còn lại đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án): Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an thị xã Thái Hòa; - VKSND thị xã Thái Hòa; - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa; - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Văn Diên |