vanban.org

Bản án 31/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Lê Ngọc T, 06 (sáu) tháng tù. Thời thạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2018/HS-ST
Ngày: 09-05-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Thanh

2. Bà Đinh Kim Hoàng

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4 - TP. Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Luân- Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 – TP. Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2018/HSST ngày 29 tháng 03 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/ QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Ngọc T (tên gọi khác: Phép), sinh ngày 15 tháng 4 năm 1997 tại Thành phố Hà Nội; HKTT: 260 Bis Đường A, Phường B, Quận C - Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Phục vụ nhà hàng; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang N và bà Quách Thanh H.

Tiền án: Không

Tiền sự: Năm 2015, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường D, Quận E - TP. Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số 155/QĐ-UBND ngày 01/8/2015)

Bị cáo tại ngoại “có mặt”.

- Người bị hại:

Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1985 “vắng mặt”

Địa chỉ: xã G, huyện H - Thành phố Hồ Chí Minh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1989 “vắng mặt”

Địa chỉ: xã G, huyện H - Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Ngọc T và anh Nguyễn Thanh P là bạn bè quen biết cùng là học viên cai nghiện ma túy tại Trung tâm ĐH, tỉnh Bình Phước. Khoảng 11 giờ ngày 11/11/2017, thông qua mạng xã hội Zalo, T nhắn anh P đến uống cà phê tại quán trên đường V, Phường K, Quận Y. Trong lúc uống cà phê, T nhìn thấy anh P có sử dụng điện thoại di động cảm ứng Samsung Galaxy Note 5 màu vàng có giá trị cao nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện, T giả vờ nói với anh P là có bạn gái cần giới thiệu và kêu anh P lấy xe gắn máy chở T đến nhà của người này ở hẻm gần đó để gặp mặt và được P đồng ý. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai chạy đến trước số 122/5/26/3 T, Phường K, Quận Y thì T thấy hẻm vắng người, thuận tiện cho việc chiếm đoạt điện thoại nên nói với P dừng xe lại và hỏi mượn điện thoại của P để gọi cho người bạn gái cần giới thiệu. Nguyễn Thanh P lấy điện thoại di động Samsung Galaxy S3 của mình đưa cho T gọi nhưng điện thoại hết pin nên T trả lại cho anh P. Sau đó, anh P lấy điện thoại di động Samsung Galaxy Note 5 ra đồng thời hỏi T sao không lấy điện thoại của T gọi. Để tạo thêm niềm tin cho anh P, T lấy điện thoại Samsung Core Prime của mình đưa cho anh P cầm và nói là điện thoại bị hư nên không gọi được. Khi được anh P giao điện thoại Samsung Galaxy Note 5 để gọi, T nói với anh P đứng đợi, cầm điện thoại của anh P giả vờ bấm gọi rồi đi bộ lên phía trước một đoạn, rẽ qua hẻm khác tẩu thoát.

Anh Nguyễn Thanh P đứng chờ khoảng 15 phút không thấy T quay lại liền chạy xe đi tìm T nhưng không gặp nên về nhà kể lại sự việc cho em gái là Nguyễn Thị Lan P nghe, rồi sau đó cả hai đi tìm Lê Ngọc T. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, phát hiện T đang đứng trước tiệm tạp hóa số 58 đường T, Phường K, Quận Y, anh P và chị P liền chạy đến dùng tay túm cổ áo của T để đòi lại điện thoại Samsung Galaxy Note 5 nhưng T vùng vẫy ra được và bỏ thoát. Anh P đuổi theo không kịp nên đã đến Cơ quan Công an để trình báo đồng thời giao nộp điện thoại Samsung Core Prime của T đã đưa cho anh P giữ. Đến tối cùng ngày, T đem điện thoại di động Samsung Galaxy Note 5 chiếm đoạt được của anh P đến khu vực cầu NTP Quận T bán cho người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) được 2.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 05/12/2017, T bị Công an Quận 4 mời đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Kết luận số 138/TCKH-HĐĐG ngày 22/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 4 kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 5, màu vàng, đã qua sử dụng, có giá trị 7.400.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 30/CTr- VKS ngày 29/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Lê Ngọc T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lê Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho Lê Ngọc T 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Core Prime màu trắng, bị bể màn hình có số Imei: 3595656/06/241938/9, Model: SM-G360H/DS

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Ngọc T và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo Lê Ngọc T phù hợp phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 11/11/2017, tại trước nhà số 122/5/26/3 đường T, Phường K, Quận Y, bị cáo Lê Ngọc T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 5 trị giá 7.400.000 đồng của Nguyễn Thanh P. Hành vi của bị cáo Lê Ngọc T đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 có hiệu lực thi hành, theo đó hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Hành vi của bị cáo là rất liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội. Vì lòng tham và để có tiền tiêu xài, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm làm xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Tân Thuận Tây, Quận 7 - TP. Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào năm 2015 (Quyết định số 155/QĐ-UBND ngày 01/8/2015). Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm tương ứng với tính chất của vụ án cũng như mức độ phạm tội của bị cáo để xử phạt nhằm có tác dụng giáo dục và răn đe. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về phần bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, anh Nguyễn Thanh P khai điện thoại di động là của em ruột tên Nguyễn Thị Lan P giao cho sử dụng. Ngày 08 tháng 12 năm 2017, ông Lê Quang N là cha ruột bị cáo đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Lan P 5.000.000 đồng tương đương giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt không thu hồi lại được. Người bị hại và chị Nguyễn Thị Lan P đã nhận đủ tiền và xin bãi nại nên phần bồi thường dân sự không có gì giải quyết.

Xử lý vật chứng:

- Thu giữ của Lê Ngọc T 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Core Prime màu trắng, bị bể màn hình có số Imei: 3595656/06/241938/9, Model: SM-G360H/DS. Xét, đây là công cụ, P tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 139, điểm b, điểm h, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt: Lê Ngọc T, 06 (sáu) tháng tù.

Thời thạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

- Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009;

+ Tịch thu 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Core Prime màu trắng, bị bể màn hình có số Imei: 3595656/06/241938/9, Model: SM-G360H/DS

(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 72/2018 ngày 04/4/2018 giữa Công an Quận 4 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4 - TP. Hồ Chí Minh)

- Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí:

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ