vanban.org

Bản án 31/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị B.

Về hôn nhân: Chị Phan Thị B được ly hôn với anh Huỳnh Kim T. Về việc nuôi con chung: Giao cho chị Phan Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Huỳnh Hồng L, sinh ngày 11/11/2017, khi cháu L chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Phan Thị B và anh Huỳnh Kim T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2018/HNGĐ-ST
Ngày 11/12/2018
“V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kia.

2. Ông Nguyễn Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

Ngày 11/12/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 144/2018/TLST-HNGĐ ngày 13/8/2018 “Về việc tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/11/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị B; địa chỉ: Tổ B, phường TS, thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Kim T; địa chỉ: Tổ A, phường TS, thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Thị B trình bày: Chị B và anh Huỳnh Kim T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường TS, thị xã AK, tỉnh Gia Lai, theo giấy chứng nhận kết hôn số 17/2017 vào ngày 20/3/2017. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính nhau, khác nhau về quan điểm sống, không còn tôn trọng nhau và không còn hạnh phúc nên không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân. Vào tháng 4 năm 2018, chị B cũng đã khởi kiện xin ly hôn, nhưng sau đó rút đơn khởi kiện, Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Hiện nay, chị B xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên chị B yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh Huỳnh Kim T.

- Về con chung: Chị B và anh T có 01 con chung là Huỳnh Hồng L, sinh ngày 11/11/2017. Chị B có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Huỳnh Kim T mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần Tòa án triệu tập đến hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên đã không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị B yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Kim T; địa chỉ: Tổ A, phường TS, thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã AK, tỉnh Gia Lai. Bị đơn anh Huỳnh Kim T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Huỳnh Kim T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị B và anh Huỳnh Kim T có đủ điều kiện kết hôn, đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị B và anh T đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chị B có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T. Ngày 27/9/2018, Tổ dân phố B và UBND phường TS đã có xác nhận về tình trạng mâu thuẫn giữa chị B và anh T. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để chị B và anh T có cơ hội hàn gắn với nhau nhưng anh T không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng với chị B. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích động viên để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị B cho rằng không thể tiếp tục chung sống với nhau và cương quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị B đối với anh Huỳnh Kim T.

Về nuôi con chung: Chị B và anh T có 01 con chung là Huỳnh Hồng L, sinh ngày 11/11/2017, chị B có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy vì lợi ích của con chung, hiện nay cháu L còn nhỏ, chưa được 36 tháng tuổi nên cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Vì vậy, cần giao cháu Huỳnh Hồng L, sinh ngày 11/11/2017 cho chị Phan Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị B không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Phan Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn anh Huỳnh Kim T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị B.

- Về hôn nhân: Chị Phan Thị B được ly hôn với anh Huỳnh Kim T.

- Về việc nuôi con chung: Giao cho chị Phan Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Huỳnh Hồng L, sinh ngày 11/11/2017, khi cháu L chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Chị Phan Thị B không yêu cầu anh Huỳnh Kim T phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Chị Phan Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007061 ngày 13/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã AK, tỉnh Gia Lai, chị B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Huỳnh Kim T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (11/12/2018), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ