vanban.org

Bản án 31/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện: Về việc Ly hôn và tranh chấp nuôi con của chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị M - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
TỈNH HÀ GIANG
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2018/HNGĐ-ST
Ngày 22-10-2018
V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Anh L.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nông Thị T.

2. Bà Vƣơng Thị L.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt C – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Q – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2018 về việc "Ly hôn và tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1459/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị M – Sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện A, tỉnh Hà Giang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 12/12.

Hôm nay vắng mặt (Đã có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm: 1979.

Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện A, tỉnh Hà Giang.

Nghề nghiệp: Cơ khí; Dân tộc: Tày; Trình độ văn hóa: 12/12.

Hôm nay vắng mặt (Đã có đơn xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 25-7-2018 của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án là chị Đinh Thị M trình bày: Chị Mai và anh T trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau. Chị M và anh T có đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 7 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện A, tỉnh Hà Giang. Sau khi về chung sống với nhau, chị M và anh T chung sống hạnh phúc được khoảng 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Đến khoảng tháng 6 năm 2014, thì vợ chồng chị M, anh T phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do cuộc sống gia đình có nhiều điều bất đồng trong làm ăn kinh tế, cuộc sống không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Chị M và anh T sống ly thân với nhau từ tháng 8 năm 2014 cho đến nay. Chị M xét thấy tình cảm của vợ, chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục nữa nên có quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị M ly hôn với anh T để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị M và anh T có hai con chung:

- Cháu Nguyễn Anh T1 – Sinh ngày: 01-11-2003.

- Cháu Nguyễn Ngọc T2 – Sinh ngày: 08-3-2008.

Chị M có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc T2 đến khi cháu T2 trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị M có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ giao cháu Nguyễn Anh T1 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T1 trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị M không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu T2, chị M không phải cấp dưỡng nuôi cháu T1.

Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 11-9-2018 của bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh T và chị M trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau. Anh T và chị M có đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 7 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện A, tỉnh Hà Giang. Sau khi về chung sống với nhau, anh T và chị M chung sống hạnh phúc được khoảng 13 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Đến khoảng năm 2015, thì vợ chồng anh T và chị M phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do chị M làm ăn thua lỗ nên đã tự ý bỏ nhà đi làm thuê ở tại Hà Nội. Anh T đã xuống đón chị M về nhà 02 lần. Đến tháng 02-2018, chị M có xin phép anh T đi làm thuê và anh T đã đồng ý. Sau đó, anh T đã đi làm từ đó đến nay không có liên lạc gì. Trong thời gian đi làm thuê, chị M có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Sau đó, chị M về gửi đơn ra Tòa án xin ly hôn với anh T. Anh T xét thấy tình cảm của vợ, chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục nữa nên có quan điểm nhất trí ly hôn với chị M để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh T và chị M có hai con chung:

- Cháu Nguyễn Anh T1 – Sinh ngày: 01-11-2003.

- Cháu Nguyễn Ngọc T2 – Sinh ngày: 08-3-2008.

Anh T có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Anh T1 đến khi cháu T1 trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh T có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ giao cháu Nguyễn Ngọc T2 cho chị Đinh Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T2 trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh T không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi cháu T1, anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu T2.

Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Toà án đã tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tòa án không tiến hành hòa giải vì đương sự có đề nghị không tiến hành hòa giải. Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa ngày hôm nay: Chị Đinh Thị M vắng mặt có lý do (Chị M đã có đơn xin giải quyết vắng mặt). Chủ tọa phiên tòa công bố toàn bộ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, đơn xin giải quyết vắng mặt và những tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Chị M có quan điểm đề nghị giải quyết cho chị M ly hôn với anh T để mỗi người có một cuộc sống riêng. Về phần con chung, chị M giữ nguyên quan điểm sau khi ly hôn, chị sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc T2 đến khi cháu T2 trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị M có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ giao cháu Nguyễn Anh T1 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T1 trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị M không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu T2, chị M không phải cấp dưỡng nuôi cháu T1. Về tài sản chung và công nợ, chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa ngày hôm nay: Anh Nguyễn Văn T vắng mặt có lý do (Anh T đã có đơn xin giải quyết vắng mặt). Chủ tọa phiên tòa công bố nội dung biên bản lấy lời khai và đơn xin giải quyết vắng mặt của anh T. Về quan hệ hôn nhân, anh T có quan điểm nhất trí ly hôn với chị M để mỗi người có một cuộc sống riêng. Về phần con chung, anh T có quan điểm sau khi ly hôn sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Anh T1 đến khi cháu T1 trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh T có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ giao cháu Nguyễn Ngọc T2 cho chị Đinh Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu T2 trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh T không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi cháu T1, anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu T2. Về tài sản chung và công nợ, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A về việc giải quyết vụ án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Ly hôn và tranh chấp nuôi con của chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T ly hôn.

3. Về con chung:

- Giao cháu Nguyễn Anh T1 – Sinh ngày: 01-11-2003 cho anh Nguyễn Văn T – Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện A, tỉnh Hà Giang trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Anh T1 trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 22-10-2018.

- Giao cháu Nguyễn Ngọc T2 – Sinh ngày: 08-3-2008 cho chị Đinh Thị M – Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện A, tỉnh Hà Giang trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Ngọc T2 trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 22-10-2018.

Chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

4.Về tài sản, công nợ: Chị M và anh T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng dân sự: Chị Đinh Thị M có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện A giải quyết việc hôn nhân của chị và anh T. Theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Hà Giang. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai và tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 12-7-2002 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện A, tỉnh Hà Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi về chung sống với nhau vợ, chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do vợ, chồng có nhiều quan điểm bất đồng, trái ngược nhau trong công việc làm ăn kinh tế, cuộc sống không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, chị M tự ý bỏ nhà đi làm ăn và có quan hệ bất chính với người khác. Chị M và anh T đã sống ly thân với nhau từ năm 2015 cho đến nay. Mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M có đơn xin ly hôn với anh T. Tòa án nhận thấy về tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh T cuộc sống chung không hoà hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M đối với anh T là phù hợp.

Về con chung: Chị M và anh T cùng có quan điểm đề nghị Tòa án:

- Giao cháu Nguyễn Anh T1 – Sinh ngày: 01-11-2003 cho anh Nguyễn Văn T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Anh T1 trưởng thành, đủ 18 tuổi.

- Giao cháu Nguyễn Ngọc T2 – Sinh ngày: 08-3-2008 cho chị Đinh Thị M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Ngọc T2 trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Tòa án xét thấy nguyện vọng của chị M và anh T là phù hợp, để đảm bảo được cuộc sống và điều kiện ăn học cho cháu T1 và cháu T2. Do vậy cần phải giao cháu Nguyễn Anh T1 – Sinh ngày: 01-11-2003 cho anh Nguyễn Văn T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Anh T1 trưởng thành, đủ 18 tuổi, kể từ ngày 22-10-2018 và giao cháu Nguyễn Ngọc T2 – Sinh ngày: 08-3-2008 cho chị Đinh Thị M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Ngọc T2 trưởng thành, đủ 18 tuổi, kể từ ngày 22-10-2018.

Chị M và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản, công nợ: Chị M và anh T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Đinh Thị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Khoản 1, khoản 2 Điều 81; Khoản 1, khoản 3 Điều 82; Khoản 2 Điểu 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện: Về việc Ly hôn và tranh chấp nuôi con của chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T ly hôn.

3. Về con chung:

- Giao cháu Nguyễn Anh T1 – Sinh ngày: 01-11-2003 cho anh Nguyễn Văn T – Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện A, tỉnh Hà Giang trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Anh T1 trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 22-10-2018.

- Giao cháu Nguyễn Ngọc T2 – Sinh ngày: 08-3-2008 cho chị Đinh Thị M – Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện A, tỉnh Hà Giang trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Ngọc T2 trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 22-10-2018.

Chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

4. Về án phí: Chị Đinh Thị M phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 01946 ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Hà Giang (Chị M đã nộp đủ tiền án phí).

5. Quyền kháng cáo: Báo cho chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7; Điều 7a; Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ