- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1 - Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh L và anh Nguyễn Kim K được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2018/HNGĐ-ST Ngày 09 tháng 8 năm 2018 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Kim Trọng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Thanh Nga
2. Bà Phạm Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Phan Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh Khánh Hòa
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VN - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Nam Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VN- tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 85/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/QĐST - HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2018/QĐST - HNGĐ, ngày 25/7/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh L - sinh năm: 1984; Hộ khẩu thường trú: thôn P C 2, xã VP, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: thôn P C 2 N xã V P, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Kim K - sinh năm: 1978; trú tại: thôn PC2 N, xã V P, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến tòa án ngày 26/02/2018, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 19/3/2018 các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn chị L trình bày:
Chị Lê Thị Thanh L và anh Nguyễn Kim K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2003 đến ngày 25/3/2009 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V P, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa, Giấy chứng nhận kết hôn số 29, quyển số 01. Do quá trình tìm hiểu nhau không nhiều nên khi về chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên kình cãi, anh K thiếu quan tâm chăm sóc chị L và các con, ham mê cờ bạc, anh K dùng tài sản chung của vợ chồng để đi đánh bạc làm cho kinh tế gia đình ngày càng khó khăn, chị L khuyên bảo thì anh K đánh đập, chửi bới xúc phạm nặng nề đến nhân phẩm danh dự của chị L, mặc dù sau đó vợ chồng tự hòa giải với nhau rất nhiều lần nhưng không thể xóa bỏ những mâu thuẫn đã xảy ra. Mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng. Đến đầu năm 2014 chị L mang theo hai con vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, từ đó không ai quan tâm chăm sóc đến ai và chấm dứt quan hệ vợ chồng cho đến nay.
Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Kim K.
Về con chung: Chị Lê Thị Thanh L và anh Nguyễn Kim K có hai con chung Nguyễn Đức L- sinh ngày 06 tháng 02 năm 2004; Nguyễn Lê Thúy Q - sinh ngày 09 tháng 4 năm 2007. Chị L yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc cả hai con chung cho đến khi các con chung trưởng thành. Chị L không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung.
Về nợ chung: Chị L xác định không có nợ chung của ai.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn anh Nguyễn Kim K để lấy lời khai và hòa giải nhưng anh Khang không có mặt nên Toà án không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Kim K là bị đơn đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Kim K.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh L và anh Nguyễn Kim K kết hôn tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V P, huyện VN, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29, quyển số 01, nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh K là hợp pháp. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn, chị Lxác định: Do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên kình cãi, anh K ham mê cờ bạc từ đó thiếu quan tâm chăm sóc đến chị L và các con, chị L khuyên bảo thì anh K xúc phạm, đánh đập chị L, chị L và anh K nhiều lần tự hòa giải với nhau nhưng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Vợ chồng thật sự chấm dứt quan hệ vợ chồng từ đầu năm 2014 cho đến nay. Tại phiên tòa chị L xác định không còn yêu thương anh K, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Kim K.
Quá trình giải quyết vụ án, anh K đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết vụ ly hôn giữa hai người nhưng anh K đều không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Toà án. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Luôn, anh Khang đã mâu thuẫn gay gắt và anh K không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này nữa. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Kim K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị Lê Thị Thanh L.
Về con chung: Chị Lê Thị Thanh L và anh Nguyễn Kim K có hai con chung Nguyễn Đức L - sinh ngày 06 tháng 02 năm 2004; Nguyễn Lê Thúy Q - sinh ngày 09 tháng 4 năm 2007 hiện tại các con chung do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại các biên bản ghi lời khai ngày 11/6/2018 và biên bản ghi lời khai ngày 07/5/2018, thì cháu Lvà cháu Q đều yêu cầu được tiếp tục chung sồng với mẹ. Hiện nay các con chung còn nhỏ, cần có sự ổn định mới bảo đảm được cuộc sống, nên yêu cầu của chị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là không trái với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị Luôn. Chị Lkhông yêu cầu anh Khang cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Lê Thị Thanh L xác định không có tài sản chung.
Bị đơn anh Nguyễn Kim K mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của anh K.
Về án phí: Chị Lê Thị Thanh L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
1 - Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh L và anh Nguyễn Kim K được ly hôn.
2 - Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
Giao hai con chung Nguyễn Đức L - sinh ngày 06 tháng 02 năm 2004; Nguyễn Lê Thúy Q - sinh ngày 09 tháng 4 năm 2007 cho chị Lê Thị Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị L không yêu cầu anh Nguyễn Kim K cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh K được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị L anh K có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.
3 - Về tài sản chung: Chị L xác định không có tài sản chung.
4 - Về án phí: Chị Lê Thị Thanh L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0014047 ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V N; chị L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5 - Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện VN ; - Chi cục THA huyện VN; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật) - Ủy ban nhân dân xã V P; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, AV, VT. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Kim Trọng |