vanban.org

Bản án 31/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Lƣơng Đức T.

Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Lƣơng Thiên Kim, sinh ngày 14/02/2018 đến khi con đủ 18 tuổi. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh Lƣơng Đức T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở. Về á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Lương Đức T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Lƣơng Đức T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2018/HNGĐ-ST
Ngày 13/11/2018
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh - kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 254/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 31/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2018 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; đăng ký HKTT: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; chỗ ở hiện tại: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

- Bị đơn: Anh Lƣơng Đức T, sinh năm 1992; đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Bà Đào Thị K, trú tại: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

+ Ông Nguyễn Tiên B, trú tại: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lƣơng Đức T kết hôn với nhau vào ngày 27/9/2017 trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống chung của anh chị chỉ hạnh phúc đƣợc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình của vợ chồng không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng, anh T là ngƣời đa nghi, luôn nghi ngờ chị vẫn giữ mối quan hệ với ngƣời yêu cũ nên ghen tuông, đay nghiến chị, vợ chồng thƣờng xảy ra cãi nhau, mỗi lần cãi nhau, anh T lại đuổi chị ra khỏi nhà. Từ ngày 03/10/2018, anh chị cãi nhau, anh T đuổi chị đi nên chị đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở N, T sống từ đó đến nay. Chị thấy không còn tình cảm với anh T, cuộc sống chung căng thẳng, mệt mỏi nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh T.

Về quan hệ con chung: Chị và anh T có một con chung là Lƣơng Thiên Kim, sinh ngày 14/02/2018, chị đề nghị đƣợc nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị và anh T không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị đơn là anh Lƣơng Đức T trình bày về điều kiện, hoàn cảnh và thời gian kết hôn giống nhƣ chị H trình bày. Còn nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng theo anh T là do tính cách của chị H ngang bƣớng, tự làm theo ý mình, không nghe ý kiến của anh nên vợ chồng hay cãi nhau. Vì tức giận nên anh có đuổi chị H đi nhƣng sau đó chị H lại về chung sống cùng anh. Anh xác định mặc dù vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, thậm chí không còn tình cảm với nhau nhƣng anh không đồng ý ly hôn vì anh chị có nhiều các mối quan hệ liên quan và không muốn con bị mang tiếng bố mẹ bỏ nhau.

Về con chung: Anh và chị H có một con chung đúng nhƣ lời trình bày của chị H, giả sử Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn nhau, anh đề nghị đƣợc nuôi con và không yêu cầu chị H phải cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bà Đào Thị Kiên (mẹ đẻ anh T) xác định anh T và chị H có mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách của chị H trẻ con, ngang bƣớng nên vợ chồng hay xảy ra cãi nhau, mỗi lần cãi nhau chị H lại bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, dù đã đƣợc gia đình khuyên bảo nhiều lần nhƣng chị H không thay đổi. Bà không mong muốn các con ly hôn nhau nhƣng với tính cách của chị H thì mối quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H rất khó có thể hạnh phúc đƣợc.

Ông Nguyễn Tiên Bẩy (bố đẻ chị H) cũng khẳng định tính cách của anh T và chị H không hợp nhau nên khó có khả năng hàn gắn mâu thuẫn, khả năng đoàn tụ là không có.

Đại diện Cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình và trẻ em ở địa phƣơng bày tỏ quan điểm đề nghị Tòa án giao con cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng vì cháu chƣa đƣợc 1 tuổi, vẫn đang trong thời kỳ bú mẹ.

Tại phiên toà, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh T và đề nghị đƣợc nuôi con, ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác; anh T không đồng ý ly hôn và có quan điểm nếu Tòa án giải quyết cho chị H ly hôn anh thì anh đồng ý để chị H đƣợc nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H là đúng quy định của pháp luật; Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ đã đƣợc thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong thời hạn giải quyết vụ án, chị H và anh T không tự thỏa thuận đƣợc các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ đƣa vụ án ra xét xử. Các đƣơng sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Việc xét xử tại phiên tòa thực hiện đúng trình tự luật định. Hƣớng giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị xử cho chị H ly hôn anh T; về quan hệ con chung, đề nghị giao con cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dƣỡng, chăm sóc, anh T không phải cấp dƣỡng nuôi con cùng chị H; về án phí: chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Lƣơng Đức T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Q vào ngày 27/9/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Cả chị H và anh T đều khẳng định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách hai ngƣời không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng nhƣng chị H xin ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy mặc dù anh T không đồng ý ly hôn nhƣng thực tế anh chị đã có nhiều mâu thuẫn, thƣờng xuyên cãi nhau và không còn tôn trọng, tin tƣởng nhau, không ai có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ hôn nhân. Những ngƣời làm chứng (là bố mẹ của anh T, chị H) đều xác định mâu thuẫn của anh chị khó có khả năng hàn gắn. Nhƣ vậy, hôn nhân của chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc nên căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H đƣợc ly hôn anh T.

Về quan hệ con chung: Con chung của chị H và anh T là cháu Lƣơng Thiên Kim, sinh ngày 14/02/2018 (dƣới 36 tháng tuổi), tại phiên tòa, anh T nhất trí để chị H nuôi con; đại diện cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình và trẻ em ở địa phƣơng bày tỏ quan điểm đề nghị Tòa án giao con cho chị H trực tiếp nuôi dƣỡng, con hiện đang ở cùng chị H nên HĐXX giao con cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Cả chị H và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Lƣơng Đức T.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Lƣơng Thiên Kim, sinh ngày 14/02/2018 đến khi con đủ 18 tuổi. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh Lƣơng Đức T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0000680 ngày 15/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ