vanban.org

Bản án 31/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Th và anh Nguyễn Văn Ch ly hôn.

Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Th có quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Khánh D, sinh ngày 26/9/2015. Về cấp dưỡng nuôi con chung: không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Th, anh Ch ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Th và anh Nguyễn Văn Ch ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2018
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG – TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Xuân; Ông Trần Thành Đô

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Văn Sang– Thư ký TAND huyện Lạng Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: bà Hà Thị Hiên – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 6 năm 2018, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 196/2018/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2018/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Hoàng Thị Th, sinh năm 1991; (có mặt)

ĐKHKTT: Thôn TM, xã TD, huyện LG, BG

Nơi ở: Thôn 13, xã XL, huyện LG, tỉnh BG

2- Bị đơn: anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1991;

(có mặt)

Địa chỉ: Thôn TM, xã TD, huyện LG, tỉnh BG;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Hoàng Thị Th tại đơn khởi kiện ghi ngày 15/5/2018, bản tự khai và các lời khai tiếp theo trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Ch đã kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã XL, huyện LG ngày 22/11/2014, có tổ chức lễ cưới theo tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống, nhưng không hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng thường xảy ra cãi nhau, nguyên nhân do anh Ch ham chơi bạn bè, thường uống rượu say rồi về gây gổ với chị, chửi, đánh chị, coi thường chị. Chị đã nhiều lần khuyên bảo, anh Ch có hứa thay đổi nhưng sau đó lại xảy ra tình trạng trên. Ngày 12/01/2018 (âm lịch) vợ chồng mâu thuẫn gay gắt, chị đã phải bỏ về nhà ngoại một tuần sau đó vợ chồng lại hòa giải, đến ngày 01/6/2018 chị và anh Ch lại tiếp tục mâu thuẫn vì anh Ch uống rượu về gây sự, sau đó anh Ch đánh chị, chửi bới chị và gia đình chị, chị đã bỏ về nhà bố, mẹ đẻ, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, chị xác định không thể chung sống với anh Ch nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Nguyễn Khánh D, sinh ngày 26/9/2015, hiện nay con khỏe mạnh. Nay ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Ch phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn Ch tại bản tự khai ngày 06/6/2018 và các lời khai tiếp theo trình bày: Về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn giữa hai vợ chồng đúng như chị Th khai. Vợ chồng anh sau khi kêt hôn đã về chung sống hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng có mâu thuẫn song chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống thường ngày, cãi nhau xong lại thôi. Cũng có lúc do vợ chồng mâu thuẫn, nóng giận dẫn đến việc anh có đánh vợ, nhưng sau đó anh cũng đã xin lỗi. Vợ chồng đã ly thân từ ngày 01/6/2018, do vợ chồng cãi nhau, chị Th bỏ đi. Anh có gọi chị Th về nhưng chị Th không nhất trí. Nay chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh không nhất trí ly hôn, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung: anh xác nhận vợ chồng có một con chung như chị Th khai. Nếu vợ chồng ly hôn, anh xin nuôi con, nếu chị Th muốn nuôi con thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo luật. Nếu được nuôi con thì anh yêu cầu chị Th đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo mức là 1.000.000 đồng/tháng. Thời gian đóng góp từ khi ly hôn đến khi con đủ 18 tuổi. Nếu chị Th được nuôi con anh nhất trí đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của chị Th.

Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Th, anh Ch có mặt vẫn giữ nguyên ý kiến quan điểm.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên toà đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, của thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, kiểm sát viên đã phân tích đánh giá tài liệu, chứng cứ, thực trạng mâu thuẫn của chị chị Th, anh Ch và xác định mâu thuẫn gay gắt, kéo dài, đề nghị HĐXX áp dụng điều 56 luật hôn nhân và gia đình xử cho vợ chồng ly hôn. Về con chung đề nghị áp dụng điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình giao cho chị Th nuôi cháu Nguyễn Khánh D, sinh ngày 26/9/2015. Do chị Th không yêu cầu anh Ch đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị HĐXX không đặt ra xem xét. Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị Th cùng các tài liệu nộp theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức, nội dung đơn khởi kiện. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình cụ thể là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo khoản 1điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành nghiêm túc, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều có mặt.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Th và anh Nguyễn Văn Ch đã kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã XL, huyện LG ngày 22/11/2014, nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Về mâu thuẫn: Chị Hoàng Thị Th khai ngay sau khi kết hôn vợ chồng đã có mâu thuẫn, vợ chồng thường cãi vã, bất hòa do tính cách, lối sống khác nhau, anh Ch ham chơi bạn bè thường xuyên uống rượu rồi gây sự, chửi bới, đánh chị và từ đầu năm 2018 cho đến nay vợ chồng mâu thuẫn gay gắt, chị đã phải bỏ về nhà bố, mẹ đẻ ở. Bản thân anh Ch có thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, có cãi chửi nhau, anh có đánh chị Th, song anh mong muốn vợ chồng hòa giải, đoàn tụ. HĐXX xét thấy, trên thực tế, trong quá trình chung sống anh Ch, chị Th đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, có được gia đình hòa giải, vợ chồng cũng đã bỏ qua cho nhau, song sau đó mâu thuẫn lại tiếp tục xảy ra, việc anh Ch uống rượu, chửi bới, đánh vợ, không tôn trọng vợ đã dẫn đến việc chị Th mất niềm tin, tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Khi giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, anh Ch có xin lỗi, cam kết sửa chữa, song cho đến nay chị Th vẫn xác định không còn tình cảm, việc duy trì hôn nhân không đem đến hạnh phúc cho chị. Xét tình trạng hôn nhân của chị Th, anh Ch hiện sống ly thân, mâu thuẫn đã kéo dài, không thể hòa giải đoàn tụ, chị Th kiên quyết ly hôn nên HĐXX quyết định xử cho chị Th, anh Ch ly hôn là phù hợp với quy định tại điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Th và anh Ch có một con chung là Nguyễn Khánh D, sinh ngày 26/9/2015, cả hai đều có nguyện vọng nuôi con, song xét cháu D hiện chưa đủ ba tuổi nên căn cứ quy định tại khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu D cho chị Th nuôi là phù hợp quy định của pháp luật. Về đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không buộc anh Ch phải đóng góp.

Sau khi ly hôn, anh Ch có quyền thăm nom con chung và không ai được cản trở anh Chung thực hiện quyền này.

Về tài sản chung, công nợ chung: anh Ch, chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Th phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điều 56, 57, điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, điều 35; điều 39; điều 70; điều 71; điều 72; điều 147; điều 235; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điều 26; khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Th và anh Nguyễn Văn Ch ly hôn.

Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Th có quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Khánh D, sinh ngày 26/9/2015.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: không đặt ra xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Ch có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

Án phí: Chị Hoàng Thị Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0006504 ngày 23/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ