vanban.org

Bản án 31/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngU đơn chị Nguyễn Tú U.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Tú U và anh Nguyễn Văn B. Giấy chứng nhận kết hôn số 240 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 19/11/2012 không còn giá trị pháp lý khi bản án này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Nguyễn Tú U và bị đơn anh Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngU đơn chị Nguyễn Tú U.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2018/HNGĐ-ST
Ngày 19-7-2018.
V/v: Tranh chấp xin ly hôn và
nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Danh On;

2/ Bà Nguyễn Thị Hiểu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đắc Mẫn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Dƣơng Minh Kha - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai vụ án thụ lý số: 110/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

- NgU đơn: Chị Nguyễn Tú U, sinh năm 1992.

Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị U và anh B vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 25/5/2018, ngU đơn chị Nguyễn Tú U trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2012, chị U và anh Nguyễn Văn B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào 19/11/2012. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi nhau và chị U đã ly thân với anh B khoảng 05 năm nay. Do không thể chung sống được với anh B nữa nên chị U yêu cầu được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị U trình bày, trong quá trình chung sống giữa chị và anh B có 01 đứa con chung là cháu Nguyễn Trang Nhã, sinh ngày 14/11/2013. Hiện tại cháu đang sống chung với chị U. Chị U yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Chị U xác định chị và chồng chị tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 25/5/2018, bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày như sau: Anh B và chị U tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Trong quá trình chung sống, giữa anh và chị U có 01 người con chung là cháu Nguyễn Trang Nhã, sinh ngày 14/11/2013, hiện tại cháu đang sống chung với chị U. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xU cự cãi nhau và anh B đã sống ly thân với chị U khoảng 05 năm nay, do không có cách nào hàn gắn với chị U nên anh B đồng ý ly hôn với chị U. Về con chung, anh B đồng ý giao con anh là cháu Nguyễn Trang Nhã, sinh ngày 14/11/2013 cho chị U nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và anh B không phải cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, anh B xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì ngU đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa ngày hôm nay, ngU đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngU đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Tú U và anh Nguyễn Văn B.

2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Trang nhã, sinh ngày 14/11/2013 cho chị U nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Tú U khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn B và yêu cầu nuôi con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn B có nơi đăng ký thường trú tại ấp T, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

NgU đơn chị Nguyễn Tú U và bị đơn anh Nguyễn Văn B tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị U và anh B.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2012, chị Nguyễn Tú U và anh Nguyễn Văn B có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên quan hệ hôn nhân giữa chị U và anh B là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, chị U và anh B đều xác định có xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng anh chị thường xU cự cãi nhau và anh chị đã sống ly thân với nhau cách đây khoảng 05 năm nay. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị U và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do chị U và anh B đã sống ly thân cách đây khoảng 05 năm nay. Đồng thời tại biên bản lấy lời khai ngày 25/5/2018 của Tòa án với anh B thì anh B đồng ý ly hôn với chị U. Mặc dù anh B đồng ý ly hôn với chị U nhưng khi tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án thì anh B vắng mặt (có đơn xin vắng mặt) nên không thể lập biên bản được về việc ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành giữa chị U và anh B để Tòa án ra Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh chị được nên Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Vì vậy khi xét xử vụ án, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Tú U và anh Nguyễn Văn B.

Về quan hệ con chung: Qúa trình chung sống, chị U và anh B đều xác định giữa anh chị có 01 người con chung là cháu Nguyễn Trang Nhã, sinh ngày 14/11/2013. Hiện tại cháu Nhã đang sống chung với chị U. Chị U yêu cầu được nuôi con và anh B cũng đồng ý giao con cho chị U nuôi nên tiếp tục giao cháu Nhã cho chị U nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị U không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Nhã nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Tú U và anh Nguyễn Văn B xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Tú U phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

TU xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngU đơn chị Nguyễn Tú U.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Tú U và anh Nguyễn Văn B.

Giấy chứng nhận kết hôn số 240 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 19/11/2012 không còn giá trị pháp lý khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Trang Nhã, sinh ngày 14/11/2013 cho chị U nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi cháu Nhã nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3/ Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Tú U phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị U đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005761 ngày 24/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ