- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Tuyết - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự xử phạt bổ sung; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 31/2017/HSST Ngày: 22/02/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Trọng Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nguyệt.
Ông Hoàng Phú.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Đậu Thị Loan, Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2017 tại Văn phòng khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An - Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2017/HSST ngày 11 tháng 01 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký HKTT: Đội X, ấp RV, xã BN, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; tạm trú: Phòng số Y, ZV, khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Đình Tr, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn Tr1, sinh năm 1988 và 02 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/9/2016, có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/9/2016, Đội điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Thuận An phối hợp với Công an phƣờng Bình Hòa tiến hành kiểm tra hành chính chỗ ở của Nguyễn Thị T tại phòng số Y, ZV, khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An. Tại đây Công an thu giữ đƣợc 07 gói nylon nhỏ miệng kéo dính để trên đầu tủ lạnh, 03 gói nylon nhỏ miệng kéo dính để tại nơi cất bàn chải răng trong nhà vệ sinh, 01 gói nylon lớn miệng kéo dính để ở nắp thùng gạo dƣới chân kệ bếp, các gói nylon này bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp) và số tiền 10.600.000 đồng.
1
Tại Cơ quan Công an, Tuyết khai nhận số ma túy trên Tuyết mua của 01 đối tƣợng tên M (không xác định đƣợc tên thật, địa chỉ) tại khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An với giá 3.500.000 đồng. Sau đó đem về phòng trọ cất giữ và đã kịp bán cho 03 đối tƣợng nghiện ma túy (không rõ nhân thân, lai lịch) đƣợc tổng số tiền 750.000 đồng.
Bản kết luận giám định số 2308/GĐ-PC54 ngày 30/9/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ khi bắt Nguyễn Thị T đều có Methamphetamine, tổng trọng lƣợng 5,2612g.
Bản kết luận giám định số 2625/GĐ-PC54 ngày 11/11/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ khi bắt Nguyễn Thị T có hàm lƣợng Methamphetamine trung bình 70,77%, trọng lƣợng 3,7234g.
Cáo trạng số 08/QĐ/KSĐT ngày 09/01/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận:
Vào ngày 22/9/2016, Tuyết có mua ma túy của một đối tƣợng tên M (không rõ nhân thân, lai lịch), đem về cất giấu tại phòng số Y, ZV, khu phố Bình Đáng, phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An nhằm mục đích bán cho các con nghiện để kiếm lời và Tuyết đã bán cho 03 đối tƣợng nghiện (không biết nhân thân, lai lịch) đƣợc tổng sống tiền 750.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/9/2016 thì Đội điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Thuận An phối hợp với Công an phƣờng Bình Hòa tiến hành kiểm tra hành chính chỗ ở của Tuyết phát hiện thu giữ tổng số 11 gói ma túy lớn nhỏ và số tiền 10.600.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh nhƣ Cáo trạng và nhận xét: Sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; xử lý vật chứng, tài sản theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời làm chứng và vật chứng thu giữ trong vụ án. Trên cơ sở đó đã có đủ căn cứ để xác định: Hành vi của Nguyễn Thị T tàng trữ phép chất ma túy là Methamphetamine, trọng lƣợng 3,7234g tại nơi ở của mình đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý, tiếp tay cho tệ nạn ma tuý, góp phần làm nghiêm
2 trọng tình trạng nghiện ngập ma túy trong nhân dân, nhất là tầng lớp thanh, thiếu niên, làm hủy hoại sức khoẻ, tinh thần của một bộ phận thanh thiếu niên và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm hình sự khác, đồng thời gây mất an ninh, trật tự tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, biết rằng hành vi tàng trữ ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị, nhƣng vì mục đích muốn có lợi nhuận, có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật, cần phải trừng trị. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật; Việc đƣa bị cáo ra xét xử lƣu động là cần thiết, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe các đối tƣợng khác, phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính, ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Để tăng tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và răn đe các đối tƣợng khác, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định là 01 bì thƣ đã niêm phong có dấu đỏ niêm phong bên ngoài ghi ký hiện vụ số 2625/PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 10.650.000 đồng thu giữ của bị cáo T, bị cáo trình bày trong tổng số tiền thu giữ thì có 750.000 đồng là tiền có đƣợc do bị cáo bán ma túy nên đồng ý sung quỹ nhà nƣớc; còn lại số tiền 9.850.000 đồng là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến việc ma bán ma túy nên trả lại cho bị cáo.
Đối với đối tƣợng Tín bán ma túy cho bị cáo hiện chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ khi nào xác định đƣợc sẽ xử lý sau
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
3
Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2016.
Áp dụng Khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự xử phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung quỹ nhà nƣớc.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong có dấu đỏ niêm phong bên ngoài ghi ký hiện vụ số 2625/PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.
Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc số tiền 750.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 9.850.000 đồng (chín triệu tám trăm năm mƣơi nghìn đồng)
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/12/2016 và ủy nhiệm chi số 114 ngày 08/12/2016).
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Bị cáo, - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Trọng Quân 4 |