- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Quốc P - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vương Quốc P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 31/2017/HSST Ngày 28 - 12 - 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Kiên, bà Lò Thị Thành.
Thư ký phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2017 tại Nhà văn hóa bản Mé, xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2017/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo sau đây:
Họ và tên: Vương Quốc P, sinh năm 1989. Nơi ở và đăng ký nhân khẩu thường trú: Bản AD, xã CC, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Dân tộc kinh; quốc tịch Việt Nam; tôn giáo: Không; Đảng, phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Vương Quốc Ch; con bà Trần Thị G, có vợ là Lê Thị H và 02 con. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 13/7/2017 đến nay có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13-7-2017, Vương Quốc P chuẩn bị đưa vợ là Lê Thị H lên thị trấn Sông Mã để khám bệnh, trước khi đi P có gọi điện cho một người đàn ông dân tộc Mông tên là Th ở xã Huổi Một hỏi mua ma túy, Th đồng ý, đến thị trấn Sông Mã, P bảo vợ đi khám bệnh, P nói với vợ sẽ đi có việc sau đó điều khiển xe vào nhà Th, trên đường đi P gọi điện hẹn gặp Th tại cầu Nậm Mằn, thuộc bản Bằng Búng, xã Huổi Một.
Tại cầu Bằng Búng P đưa cho Th 1.100.000 đồng, Th đưa 01 bọc dán băng dính bên trong có ma túy cho P. P cất giấu vào gấu quần bên phải đang mặc đi về đến khu vực bản Pá Công – Huổi Một thì bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang thu giữ tại giấu quần bên phải của P 01 gói bên trong có 25 viên nén màu hồng, 01 cục liên kết màu trắng P khai nhận là hồng phiến và hêrôin, ngoài ra còn tạm thu giữ xe 01 chiếc xe máy hiệu Honda Vision BKS 26C1 -139.23 và 150.000đồng; 1 ví giả da và 02 điện thoại di động.
Ngày 14/7/2017 Phòng kỹ thuật công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong cân tịnh, trích mẫu giám định. Kết quả 25 viên nén hình tròn cùng 01 số mảnh viên màu hồng có tổng trọng lượng 2,21 gam, trích 10 viên nén làm mẫu giám định có trọng lượng 1,03 gam ký hiệu P, 15 viên còn lại có trọng lượng 1,18 gam ký hiệu P1, 01 cục chất bột màu trắng có trọng lượng 5,06 gam trích 02 gam làm mẫu giám định lấy ký hiệu P2, số còn lại có trọng lượng 3,06 gam lấy ký hiệu P3.
Tại kết luận giám định số 740/KLMT ngày 17/7/2017 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu P2 là chất ma túy, loại chất Hêrôin trọng lượng mẫu giám định 02 gam.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu P là chất ma túy, loại chất Methamphetamin, trọng lượng mẫu giám định 1,03 gam.
Bản cáo trạng số 139/KSĐT-MT ngày 21 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Vương Quốc P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999.
Tại phiên tòa, vị đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vương Quốc P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/QH14 ngày 24/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 và điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, bổ sung, sửa đổi năm 2017. Đề nghị xử phạt : Vương Quốc P từ 06 đến 07 năm tù.
Vật chứng :Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a,b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy P 1 = 1,18 gam hồng phiến, P3 = 3,06 gam Hêrôin, 01 túi vải, 01 mảnh nilon, 01 bọc băng dính màu đen, 01 ví giả da; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen trắng; Trả cho gia đình bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hiệu VIVO màu hồng đã cũ và 150.000đồng. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Nguồn gốc chất ma túy bị cáo khai mua của một người tên là Th ở xã Huổi Một nhưng không biết địa chỉ cụ thể, chỉ liên lạc qua điện thoại. Quá trình điều tra xác minh, các bản tại khu vực xã Huổi Một có một người tên Lầu Bả Th ở bản Co Mạ B, xã Huổi Một là đối tượng Nghiện ma túy nhưng thường xuyên lang thang hiện nay không có mặt ở địa phương nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Bị cáo nhất trí nội dung cáo trạng đã truy tố và nội dung phát biểu quan điểm luận tội, không có tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt phần nào.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn tự nguyện phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội qủa tang do Công an huyện Sông Mã lập hồi 17 giờ 45 phút ngày 13/7/2017 tại bản Pá Công, xã Huổi Một; Bản kết luận giám định số 740/KLMT ngày 17/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Lời khai người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên xét thấy đủ căn cứ kết luận Vương Quốc P có hành vi mua 5,06 gam Hêrôin và 2,21 gam methamphetamin với giá 1.100.000 đồng mục đích để sử dụng đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm hình phạt được quy định tại điểm h khoản 2 điều 194 bộ luật hình sự 1999, mức hình phạt tù từ 07 đến 15 năm và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước do đó cần có hình phạt tương xứng đảm bảo biện pháp răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Việc đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, Tuy nhiên tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại khoản 2 điều 249 bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt "từ 05 năm đếm 10 năm" nhẹ hơn khung hình phạt tại khoản 2 điều 194 bộ luật hình sự năm 1999; theo Nghị quyết số 41/ 2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội XIV về việc thi hành bộ luật hình sự số 100/2105/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 ( Bộ luật hình sự 2015) đây là quy định có lợi nên HĐXX sẽ áp dụng tinh thần của Bộ luật hình sự 2015 khi quyết định đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự theo quy định Điều 48 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải mong được hưởng lượng sự khoan hồng của pháp luật, cần xét áp dụng điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, không có khả năng thi hành nên không áp dụng đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Sau khi trích mẫu giám định số ma túy còn lại 3,06 gam Hêrôin, 1,18 gam Methamphetamin và 01 ví giả da, 01 túi nilon, 01 mảnh vải nilon, 01 bọc băng dính, là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại NOKIA là vật bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước; 150.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu VI VO là tài sản chung gia đình bị cáo cần tuyên trả lại.
Đối với chiếc xe máy hiệu HONDA ViSion có BKS 26C1 -139.23 bị cáo dùng vào việc phạm tội. Quá trình xét hỏi tại cơ quan điều tra, là tài sản chung làm phương tiện đi lại của gia đình bị cáo, cơ quan điều tra đã trả lại là phù hợp.
Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo khai mua của người tên là Th ở khu vực xã Huổi Một, huyện Sông Mã, quá trình điều tra có 01 người tên Lầu Bả Th trú tại bản Co Mạ B, xã Huổi Một có đặc điểm giống như bị cáo mô tả, nhưng quá trình điều tra xác minh Th là đối tượng nghiện chất ma túy thường đi lang thang không có mặt ở địa phương nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý đối với Th khi có căn cứ.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vương Quốc P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự 1999: Nghị quyết 41/QH14 ngày 20 - 6 - 2017; khoản 3 Điều 7 và điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vương Quốc P 06 (sáu) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2017
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì thư, mặt trước ghi: Vật chứng vụ Vương Quốc P - SN 1989 chỗ ở bản AD, xã CC, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Bắt ngày 13/7/2017 tại bản Pá Công, xã Huổi một, huyện Sông Mã. Mặt sau phong bì có 5 chữ ký, một đầu phong bì bị cắt và P1= 1,18 gam methamphetamin, P3 = 3,06 gam hêrôin, 01 mảnh nilon màu xanh, 1 ví giả da màu nâu; 01 túi nilon màu xanh; 01 bọc băng dính màu đen.
- Trả lại cho bị cáo 150.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu VI VO, vỏ màu hồng điện thoại đã cũ, có số IMEL: 863689038961013.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu NOKIA có màu đen trắng điện thoại đã cũ, có số IMEL: 356251047205124.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30 tháng 11 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; các điều 21, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/12/2017).
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - THAHS + DS (6b); - Lưu hồ sơ; -Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ toạ phiên toà Tòng Thị Hồng |