vanban.org

Bản án 309/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của UBTVQH.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. 1. Buộc ông Trần Thế Ng có trách nhiệm thanh toán làm một lần cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ 103.155.702 (một trăm lẻ ba triệu một trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm lẻ hai) đồng, gồm: gốc là 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của UBTVQH.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 309/2025/DS-ST.
Ngày 06-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành T.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thanh Tâm.

2. Ông Nguyễn Hữu Trí.

Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền QN - Thư ký Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang L - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1505/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 164/2025/QĐST-DS ngày 12/5/2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S,

Địa chỉ: Số 266-268 NK, Phường V, Quận B1, Thành phố Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành N, địa chỉ: Số 278 NK, Phường V, Quận B1, Thành phố H, là người đại diện ủy quyền. (Giấy ủy quyền số 5416/2024/UQ-TGĐ ngày 24/7/2024). (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Thế Ng, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Số 53/176/32/42A Đường số 4, phường B2, quận B, Thành phố H. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các bản tự khai, Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là S) có ông Nguyễn Thành N đại diện ủy quyền, trình bày: Ngày 10/01/2019, ông Trần Thế Ng với S có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của S-các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 35.000.000 đồng, mức lãi suất 2,6%/tháng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Ng đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 78.211.839 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ đến nay, ông Ng đã thanh toán số tiền 63.878.000 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Ng vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Ng vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng) nên ngày 23/3/2020, S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 41.354.576 đồng sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S). Tính đến ngày 06/6/2025, ông Ng còn nợ các khoản: nợ gốc 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng. Tổng cộng: 103.155.702 (một trăm lẻ ba triệu một trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm lẻ hai) đồng.

Do đó, S yêu cầu buộc ông Ng phải trả ngay tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 06/6/2025 là 103.155.702 đồng, gồm: nợ gốc 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng. Đồng thời buộc ông Ng phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ.

Ông Trần Thế Ng đã được triệu tập hợp lệ để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

* S vẫn giữ yêu cầu buộc ông Ng phải trả làm một lần tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 06/6/2025 là 103.155.702 (một trăm lẻ ba triệu một trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm lẻ hai) đồng, gồm: nợ gốc 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng. Đồng thời buộc ông Ng phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán nợ và có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Ông Trần Thế Ng đã được triệu tập hợp lệ để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật như thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; Tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; Thông báo và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, tuân thủ đúng pháp luật; Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của S, buộc ông Ng phải trả làm một lần tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 06/6/2025 là 103.155.702 đồng, gồm: nợ gốc 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng. Đồng thời buộc ông Ng phải thanh toán các khoản lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán nợ cho S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng, bị đơn, ông Trần Thế Ng có địa chỉ tại số 53/176/32/42A Đường số 4, phường B2, quận B, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H.

Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là S) có ông Nguyễn Thành N đại diện ủy quyền, vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Ng đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai, yêu cầu có mặt để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: S với ông Ng có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điền khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của S-các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 35.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 2,6%/tháng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Ng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên S có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận B. Qua yêu cầu khởi kiện của S, Hội đồng xét xử, xét thấy:

Theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của S-các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), S đã cấp cho ông Ng thẻ tín dụng có hạn mức 35.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Do đó, có cơ sở xác định ông Ng đã ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 10/01/2019 và được S cấp thẻ tín dụng có hạn mức như trên.

S cho rằng, sau khi được cấp thẻ tín dụng hạn mức 35.000.000 đồng, lãi suất là 2,6%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân, trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Ng đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 78.211.839 đồng, đã thanh toán số tiền là 63.878.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán theo bảng sao kê tóm tắt đính kèm) và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 23/3/2020, S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn tại thời điểm này là 41.354.576 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Sau khi chuyển nợ quá hạn, ông Ng có tiếp tục thanh toán số tiền 15.040.000 đồng (chi tiết theo bảng kê tóm tắt). Tính đến ngày 06/6/2025, ông Ng còn nợ các khoản gồm: gốc là 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng, tổng cộng là 103.155.702 đồng (chi tiết lãi quá hạn, dư nợ trong sao kê tóm tắt đính kèm). Do đó, S yêu cầu buộc ông Ng phải trả làm một lần số tiền còn nợ là 103.155.702 đồng và ông Ng phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ.

Xét thấy, theo khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước thì: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”; theo điểm đ khoản 1 Điều 13 quy định: “Quy định về phí (các loại phí, các thay đổi về phí)” và điểm g khoản 1 Điều 13 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 của Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng Nhà nước, quy định: “Thỏa thuận về việc cấp tín dụng cho chủ thẻ, bao gồm: Các hạn mức và sự thay đổi hạn mức sử dụng thẻ, bao gồm cả hạn mức thấu chi (đối với thẻ ghi nợ) và hạn mức tín dụng; lãi suất, phương thức tính lãi tiền vay, thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay (đối với thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ được thấu chi); thời hạn cấp tín dụng, mục đích vay, thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu, phương thức trả nợ, phí phạt khoản nợ quá hạn (nếu có). Thỏa thuận về việc cấp tín dụng cho chủ thẻ có thể được nêu trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ hoặc tại văn bản thỏa thuận riêng”. Đồng thời, theo điểm b khoản 1 Điều 15 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 1 của Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng Nhà nước, quy định: “TCPHT phải có quy định nội bộ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phù hợp với quy định pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, hạn mức, điều kiện, thời hạn cấp tín dụng, thời hạn trả nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu, lãi suất áp dụng, phương thức tính lãi tiền vay, thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay, phí phạt khoản nợ quá hạn, mục đích vay, quy trình thẩm định và quyết định cấp tín dụng qua thẻ theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng, các biện pháp áp dụng thu hồi nợ để đảm bảo trách nhiệm các bộ phận tại TCPHT trong quá trình thu hồi nợ”.

Qua xem xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/01/2019 được ký kết giữa ông Ng với S, tại phần cam kết, có nội dung: “...Bằng việc ký vào Giấy đề nghị này, tôi xác nhận rằng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S. Điều khoản và Điều kiện cùng với Giấy đề nghị này tạo thành hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng giữa tôi với S. Tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh từ hoặc liên quan đến việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà tôi đã được cấp....”. Như vậy, hợp đồng giữa đôi bên là thỏa thuận cấp thẻ tín dụng có hạn mức, theo đó S cấp cho ông Ng một khoản tiền hạn mức là 35.000.000 đồng, lãi suất do các bên thỏa thuận theo quy định, đồng thời các bên phải thực hiện đúng theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S (Đơn vị phát hành thẻ). Theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S, có hiệu lực từ 15/08/2016 (gắn với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/01/2019 được ký kết giữa ông Ng với S), tại mục 1.17 quy định: “Hợp đồng thẻ tín dụng (sau đây được gọi là hợp đồng): là hợp đồng được tạo nên bởi các điều khoản và điều kiện và giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đã được ký” và tại mục 1.9 quy định: “Dư nợ thẻ (gọi tắt là dư nợ): là tổng số nợ của tài khoản bao gồm tất cả số tiền giao dịch, phí và tiền lãi liên quan đến việc sử dụng thẻ”. Đồng thời tại mục 23, quy định: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán. Nếu chủ thẻ có nhiều hơn một tài khoản với đơn vị phát hành thẻ, việc vi phạm ở một tài khoản sẽ tự động được xem như là vi phạm ở tất cả tài khoản khác. Dù bất cứ trường hợp nào, đơn vị phát hành thẻ có quyền chấm dứt tất cả các tài khoản của chủ thẻ tại đơn vị phát hành thẻ. Đồng thời, trường hợp chủ thẻ có bất kỳ khoản nợ nào khác tại S và/hoặc tại bất cứ tổ chức tín dụng nào khác phát sinh quá hạn, toàn bộ dư nợ của chủ thẻ theo hợp đồng này cũng được xem là quá hạn và chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ. Chủ thẻ đồng ý vô điều kiện và không hủy ngang cho đơn vị phát hành thẻ có quyền trích tiền từ các loại tài khoản tiền gửi/tài khoản tiết kiệm để thanh toán cho các bất kỳ hoặc tất cả dư nợ mà chủ thẻ chính có tại S mà không cần có sự xác nhận hay đồng ý trước của chủ thẻ. Khi sự kiện vi phạm xảy ra, chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng đơn vị phát hành thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau: Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ; Áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại) phù hợp với điều 22 đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của đơn vị phát hành thẻ…”. Qua xem xét Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S phát hành tại Việt Nam của S có bảng mô tả nội dung thay đổi kèm theo. Như vậy, khi thực hiện các hoạt động cấp tín dụng cho ông Ng thì S có quy định nội bộ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phù hợp với quy định pháp luật, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, hạn mức, điều kiện, thời hạn cấp tín dụng, thời hạn trả nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu và lãi suất áp dụng. Do đó, đến ngày 23/3/2020, ông Ng vi phạm thỏa thuận thanh toán nên S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 41.354.576 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là có căn cứ.

Qua sự thừa nhận của S thì sau khi chuyển nợ quá hạn, ông Ng có tiếp tục thanh toán cho S số tiền 15.040.000 đồng, số tiền này được ưu tiên trừ vào nợ gốc 41.354.576 đồng. Theo bản tóm tắt sao kê ngày 06/6/2025 đối với số tài khoản 3895273963 của chủ thẻ Trần Thế Ng, tính đến ngày 06/6/2025, ông Ng còn nợ số tiền gốc là 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng, tổng cộng là 103.155.702 đồng. Như vậy, có cơ sở xác định đến ngày 06/6/2025, ông Ng còn nợ S số tiền là 103.155.702 đồng.

Từ những nhận định nói trên, đối với yêu cầu của S buộc ông Ng phải trả làm một lần tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 06/6/2025 là 103.155.702 (một trăm lẻ ba triệu một trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm lẻ hai) đồng, trong đó gồm: gốc là 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng. Đồng thời buộc ông Ng phải thanh toán các khoản lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán nợ, là có căn cứ nên chấp nhận.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của S, buộc ông Ng phải trả làm một lần tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 06/6/2025 là 103.155.702 đồng, trong đó gồm: gốc là 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng. Đồng thời buộc ông Ng phải thanh toán các khoản lãi phát sinh từ ngày 07/6/2025 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán nợ cho S. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tại phiên Tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 144 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì: ông Ng chịu trách nhiệm trả tiền cho S nên phải chịu án phí trên số tiền phải trả là 103.155.702 đồng. Số tiền án phí là 103.155.702 đồng x 5% = 5.157.785 đồng. Ông Ng phải chịu án phí là 5.157.785 đồng.

S không phải chịu án phí DSST. Hoàn trả cho S số tiền tạm ứng án phí là 2.302.655 đồng theo biên lai thu số 0048390 ngày 20/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B, Thành phố H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 146;

Điều 147; Điều 203; Điều 220; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu,

miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của UBTVQH.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

1.1. Buộc ông Trần Thế Ng có trách nhiệm thanh toán làm một lần cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ 103.155.702 (một trăm lẻ ba triệu một trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm lẻ hai) đồng, gồm: gốc là 26.314.576 đồng và lãi quá hạn là 76.841.126 đồng.

1.2. Ông Trần Thế Ng tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/01/2019 kể từ ngày 07/6/2025 đến khi hoàn tất việc thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP S.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí DSST: Ông Trần Thế Ng phải chịu số tiền án phí là 5.157.785 (năm triệu một trăm năm mươi bảy nghìn bảy trăm tám mươi lăm) đồng.

Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí DSST. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí là 2.302.655 đồng theo biên lai thu số 0048390 ngày 20/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B, Thành phố H.

3. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.

4. Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích quy định về quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự).

Cỡ chữ