vanban.org

Bản án 309/2025/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 15/08/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nông Thị Vân A. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực II), tỉnh Đắk Lắk. [2] Về án phí phúc thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "PHAN THỊ THU-VÂN ANH"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 309/2025/DS-PT
Ngày 15 – 8 – 2025.
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường

Các Thẩm phán: Ông Trương Công Bình; Ông Trần Duy Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Linh Chi - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở TAND tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 243/2025/TLPT-DS ngày 25/6/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn (Nay là Tòa án nhân dân khu vực II – Đắk Lắk) bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 278/2025/QĐ-PT ngày 08/7/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị T; địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Thôn E, xã E, tỉnh Đắk Lắk) - Là người thừa kế di sản của bà Nguyễn Hồng L, sinh năm 1951 (đã chết).

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Chu Đức K; địa chỉ: Thôn I, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Thôn I, xã E, tỉnh Đắk Lắk) – có mặt.

- Bị đơn: Bà Nông Thị Vân A; địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Nay Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk) – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện của bà Phan Thị T và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 25/11/2020 (Âm lịch) bà Nguyễn Hồng L (mẹ bà Phan Thị T) đã cho bà Nông Thị Vân A vay số tiền 90.000.000 đồng, theo giấy thỏa thuận không tính lãi và hẹn đến ngày 15/02/2021 (Âm lịch) sẽ trả đủ số tiền trên, nếu bán được đất sớm thì trả hết tiền sớm không đợi đến ngày hẹn. Hết thời gian trả nợ nhưng bà Nông Thị Vân A vẫn không trả tiền cho bà Nguyễn Hồng L.

Đến ngày 26/10/2021, bà Nông Thị Vân A tiếp tục hẹn đến tháng 12/2021 trả hết tiền cho bà L, nhưng bà Vân A vẫn không thực hiện việc trả nợ. Bà L đã nhiều lần đến nhà đòi nợ nhưng bà Vân A cố tình trốn tránh không trả tiền.

Nay bà Nguyễn Hồng L đã chết và để lại Di chúc người được hưởng di sản thừa kế là bà Phan Thị T đối với số tiền 90.000.000 đồng mà bà Nông Thị Vân A nợ bà L. Vì vậy, bà Phan Thị T khởi kiện yêu cầu bà Nông Thị Vân A trả cho bà số tiền 90.000.000 đồng.

- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nông Thị Vân A trình bày:

Tôi với bà Nguyễn Hồng L (mẹ của bà Phan Thị T) ở cùng thôn nên có quen biết nhau. Khoảng năm 2011 tôi có vay của bà L hơn 16.000.000 đồng, ghi vào sổ tay của bà L. Đến năm 2015 tôi đã trả cho bà L 25.000.000 đồng.

Ngày 25/11/2020, tôi viết giấy hẹn đến ngày 15/02/2021 trả cho bà L số tiền 90.000.000 đồng là do trước đó tôi có vay của bà L hơn 16.000.000 đồng nên bà L tính lãi cộng dồn vào thành 90.000.000 đồng. Chữ ký trong giấy hẹn trả tiền viết ngày 25/11/2020 và ngày 26/10/2021 đúng là chữ ký của tôi. Từ ngày viết giấy hẹn trả tiền đến nay tôi chưa trả tiền cho bà L. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu tôi trả số tiền 90.000.000 đồng thì tôi không đồng ý vì tôi không vay mượn tiền của bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 203 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị T. Buộc bị đơn bà Nông Thị Vân A có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Phan Thị T số tiền 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 19/5/2025, bị đơn bà Nông Thị Vân A kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét kháng cáo của bị đơn Nông Thị Vân A, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà Phan Thị T khởi kiện và cung cấp 01 giấy hẹn trả tiền viết tay ngày 25/11/2020 (Âm lịch) có nội dung: Bà Nông Thị Vân A và chồng là Phạm Văn H có vay của ông bà Nguyễn Hồng L, Phan T1 Bội số tiền 90.000.000 đồng, không có lãi, hẹn đến ngày 15/2/2021 (Âm lịch) sẽ thanh toán đủ số tiền trên, nếu bán được đất sớm trả tiền sớm, không đợi tới ngày hẹn. Mặt sau Giấy hẹn trả tiền có nội dung: Ngày 26/10/2021 (Âm lịch) hẹn hết tháng 12 âm lịch trả số tiền 90.000.000 đồng đã mượn, nếu có trước thì trả trước. Giấy hẹn trả tiền ngày 25/11/2020 và 26/10/2021 có chữ ký và chữ viết của bà Nông Thị Vân A, không có chữ ký, chữ viết ông Phạm Văn H.

Xét thấy, bà Nguyễn Hồng L chết và để lại Di chúc cho con gái là bà Phan Thị T được hưởng thừa kế đối với các khoản tiền mà bà L cho vay và được quyền đòi nợ đối với khoản tiền trên. Do đó, bà T có quyền khởi kiện yêu cầu bà Nông Thị Vân A trả số tiền 90.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Nông Thị Vân A thừa nhận chữ ký, chữ viết tên “Nông Thị Vân Anh” trong Giấy hẹn trả nợ ngày 25/11/2020 và ngày 26/10/2021 (Âm lịch) do nguyên đơn cung cấp là của bà. Bà Vân A cho rằng vào năm 2011 bà có vay bà L số tiền 16.000.000 đồng, năm 2015 bà đã trả cho bà L 25.000.000 đồng, sau đó không trả được tiếp nên ngày 25/11/2020 (AL) bà L ép bà ký vào giấy hẹn trả nợ số tiền 90.000.000 đồng là cộng dồn cả gốc và lãi, thực tế bà không nợ số tiền 90.000.000 đồng trên. Tuy nhiên, bà Vân A không cung cấp được tài liệu chứng minh cho lời trình trình bày của mình. Nội dung giấy hẹn trả nợ cũng không thể hiện số tiền 90.000.000 đồng là cộng gộp tiền gốc và lãi của những khoản vay trước nên không có căn cứ cho rằng bà Nguyễn Hồng L cho bà Vân A vay với lãi suất vượt quá quy định của pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, bà Nông Thị Vân A cung cấp vi bằng số 104/2025/VB-TPL được lập ngày 19/5/2025 tại Văn phòng T2 đối với file ghi âm tạo ngày 03/7/2024 có trong điện thoại của bà Nông Thị Vân A, nội dung vi bằng dịch đoạn hội thoại giữa 03 người được bị đơn cho là của bà Vân A, bà L và bà T. Tuy nhiên, hiện nay bà L đã chết nên không có cơ sở giám định đây có phải giọng nói của bà L hay không. Mặt khác, các nội dung được cho là giọng nói của bà L cũng không thừa nhận các nội dung như bà Vân A trình bày. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nông Thị Vân A. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực II), tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về án phí phúc thẩm:

Căn cứ Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Bà Nông Thị Vân A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006279 ngày 19/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực II), tỉnh Đắk Lắk.

[3] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ