vanban.org

Bản án 309/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sung năm 2017; điểm b hoản 2 Điều 267 của Bộ luật H nh sự năm 1999, s a

đổi, bổ sung năm 2009; điểm g hoản 1 Điều 52; điểm b, s hoản 1, khoản 2 2015, s a đổi bổ sung năm 2017, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành H - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? sung năm 2017; điểm b hoản 2 Điều 267 của Bộ luật H nh sự năm 1999, s a
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng h nh sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 309/2022/HSST
Ngày: 12-7-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Thanh

Ông Bùi Quang Việt

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Bà Huỳnh Thị Lệ Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở T a án nh n d n Thành phố Hồ Ch

Minh mở phiên t a t sơ th m c ng hai vụ án h nh sự sơ th m thụ l số:

433/2022/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra t

số: 2532/2022/HSST-QĐ ngày 28 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành H; Sinh ngày 06/6/1966 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Thường

trú: 212/92 Nguyễn Thiện T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Ch Minh;

Nghề nghiệp: Không; Tr nh độ học vấn: 12/12; Giới t nh: Nam; D n tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành H (đã chết) và

bà Hồ Thị Thủy N; Có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc D và 01 con sinh năm 1997;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giam ngày 30/10/2020 - Có mặt.

Người bào chữa:

Ông Nguyễn Quang Hải là luật sư của C ng ty Luật TNHH ALIAT thuộc

Đoàn luật sư Thành phố Hồ Ch Minh bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành H -

Có mặt.

Bị hại

Ông Lê Quang V; Sinh năm 1966

Thường trú: Số 27 đường số 29, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Ch

Minh – Vắng mặt (có đơn in t vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

C ng ty Cổ phần Thương mại Thuận T.

Địa chỉ: 207 ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Minh H – chức vụ Giám đốc c ng ty.

Đại diện theo ủy quyền của ng Phạm Minh H: Ông Vũ Hồng H1 - chức vụ Phó giám đốc – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2008, ng Lê Quang V giao dịch ăng, dầu với C ng ty cổ phần

thương mại Thuận T do ông Phạm Minh H làm giám đốc và c n nợ C ng ty Thuận T số tiền 1.128.770.000 đồng. Do bị bệnh phải điều trị, ông V nhờ Nguyễn Thành H thay ông V trả nợ cho C ng ty Thuận T, cụ thể:

Ngày 04/11/2011, Ông V giao cho H số tiền 385.000.000 đồng để H trả

cho Công ty Thuận T. Sau đó, H h ng trả và làm giả một phiếu thu của C ng ty Thuận T ghi ngày 14/11/2011 với số tiền thu là 367.805.000 đồng (còn 17.195.000 đồng là chi ph đi lại), có chữ của H, có con dấu, chữ của ng Phạm Minh H - Giám đốc C ng ty Thuận T và đưa lại cho ông V.

Ngày 26/12/2011, V chuyển hoản 50.000.000 đồng vào tài hoản số

06003792389 của H tại Ng n hàng Sacombank (Chi nhánh Điện Biên Phủ, Quận 3). Sau đó, H h ng trả cho C ng ty Thuận T mà làm giả 01 phiếu thu tiền của C ng ty ghi ngày 27/12/2011 với số tiền thu là 50.000.000 đồng, có chữ của H, có con dấu, chữ của Giám đốc C ng ty Thuận T là ông Phạm Minh H và giao lại cho ông V.

Ngày 01/02/2012, ông V chuyển 50.000.000 đồng vào tài hoản

060037923489 của H tại Ng n hàng Sacombạn (Chi nhánh Điện Biên Phủ, Quận 3). Sau đó, H h ng trả cho Công ty Thuận T mà làm giả 01 phiếu thu tiền của C ng ty ghi ngày 03/02/2012 với số tiền thu là 50.000.000 đồng, có chữ của H, có con dấu, chữ của Giám đốc C ng ty Thuận T là ông Phạm Minh H và giao lại cho ông V.

Ngày 20/02/2012, ông V chuyển 50.000.000 đồng vào tài hoản

50.000.000 đồng vào tài hoản 060037923489 của H tại Ng n hàng Sacombạn (Chi nhánh Điện Biên Phủ, Quận 3). Sau đó, H h ng trả cho C ng ty Thuận T mà làm giả 01 phiếu thu tiền của C ng ty ghi ngày 22/02/2012 với số tiền thu là 50.000.000 đồng, có chữ của H, có con dấu, chữ của Giám đốc C ng ty Thuận T là ông Phạm Minh H và giao lại cho ông V

Ngày 08/3/2012, ông V chuyển 50.000.000 đồng vào tài hoản

060037923489 của H tại Ng n hàng Sacombạn . Sau đó, H giao lại cho ông V 01 phiếu chuyển tiền của ng n hàng Sacomban - Chi nhánh Điện Biên Phủ ghi ngày 13/3/2012 với số tiền ghi trong phiếu chuyển tiền là 250.000.000 đồng, nội dung thanh toán “trả tiền hàng hộ ng Lê Quang V”, có chữ của Nguyễn Thành H và của đại diện Ng n hàng Sacomban - chi nhánh Điện Biên Phủ.

Từ ngày 05/4/2012 đến ngày 16/7/2012, ông V chuyển tổng cộng

562.000.000 đồng vào tài hoản số 060037923489 của H tại Ng n hàng

Sacomban . Sau đó, H đưa lại cho ông V 01 giấy ác nhận quyết toán c ng nợ

của C ng ty Thuận T ghi ngày 25/4/2012 có con dấu, chữ của Giám đốc

Công ty Thuận T là ông Phạm Minh H. Nội dung trong giấy ác nhận quyết toán

c ng nợ được đánh máy vi t nh như sau: “H m nay ngày 25/4/2012 tại văn

phòng Công ty CPTM Thuận T. Tôi là Phạm Minh H – Giám đốc C ng ty ác

nhận ng Lê Quang V đã hoàn trả đầy đủ số tiền c n thiếu của cá nh n ông V

với Công ty CPTM Thuận T… Mọi thỏa thuận, trách nhiệm giữa hai bên chấm

dứt từ giờ phút này”. Ông V có hỏi H tại sao giấy ác nhận quyết toán c ng nợ

của C ng ty Thuận T ghi ngày 25/4/2012 thì H cho biết c ng ty Thuận T ghi lùi

ngày để quyết toán c ng nợ cổ phần hóa C ng ty.

Sau đó, C ng ty Thuận T thông báo cho ông V chỉ nhận tiền trả nợ được

250.000.000 đồng và giấy ác nhận quyết toán c ng nợ là giả nên ông V làm

đơn tố giác H có hành vi lạm dụng t n nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Tại Bản ết luận giám định số 3279/C54B ngày 05/12/2016 của Ph n viện

Khoa học h nh sự, Bộ C ng an tại Thành phố Hồ Ch Minh ết luận đối với “04

phiếu thu và 01 giấy ác nhận quyết toán c ng nợ” như sau:

Chữ đứng tên Phạm Minh H dưới mục “Giám đốc” trên các tài liệu cần

giám định so với chữ đứng tên Phạm Minh H trên tài liệu mẫu so sánh là

h ng phải do cùng một người ra.

H nh dấu tr n có nội dung “Công ty cổ phần thương mại Thuận T” trên

các tài liệu cần giám định là h nh dấu được làm giả bằng phương pháp in lưới.

Tại Bản ết luận giám định số 2466/C54B ngày 12/12/2017 của Ph n viện

hoa học h nh sự, Bộ C ng an tại Thành phố Hồ Ch Minh ết luận như sau:

Chữ dưới mục “KT người nộp tiền” trên tài liệu cần giám định 02

“phiếu thu” số 76/11 ngày 14/11/2011 và số 57/12 ngày 27/12/2011 với chữ

mang tên Nguyễn Thành H trên 02 tài liệu làm mẫu so sánh “Phiếu đăng dịch

vụ Ng n hàng Sacomban ” ngày 07/10/2011 và “Ủy nhiệm chi” số 7658 ngày

13/3/2012 là do cùng một người ra.

Kết quả ác minh tại Ng n hàng Sacomban - Chi nhánh Điện Biên Phủ

ác định: Ngày 13/3/2012, Nguyễn Thành H có chuyển trả số tiền 250.000.000

đồng cho C ng ty Thuận T thông qua Ngân hàng Sacombank tại tỉnh Tiền

Giang.

Tại bản cáo trạng số 283/CT-VKS-P2 ngày 28/5/2021, Viện iểm sát

nh n d n Thành phố Hồ Ch Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành H về tội:

“Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức ” theo điểm b hoản 2 Điều 267

của Bộ luật H nh sự năm 1999, s a đổi, bổ sung năm 2009 và tội “Lạm dụng t n

nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a hoản 4 Điều 175 Bộ luật h nh sự năm

2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên t a sơ th m, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan C ng ty

CPTM Thuận T, đại diện ng Vũ Hồng H1 khai: Ông H là giám đốc C ng ty CPTM Thuận T có hoạt động inh doanh ăng dầu với ng Lê Quang V. Theo văn bản ác nhận nợ ngày 20/11/2011, ông V ác định c n nợ C ng ty Thuận T số tiền 1.128.770.000 đồng. Ông V mới trả nợ số tiền 250.000.000 đồng bằng h nh thức chuyển hoản từ tài hoản Sacomban 060037923489 mang tên Nguyễn Thành H, Số tiền nợ c n lại chưa thanh toán là 878.770.000 đồng. Ông H ác nhận h ng tên, đóng dấu của C ng ty CPMT Thuận T trên Phiếu thu đề ngày 14/11/2011; 27/12/2011; 03/02/2012; 22/02/2012 và Giấy ác nhận quyết toán C ng nợ đề ngày 25/4/2012.

Tại phiên t a, bị cáo Nguyễn Thành H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm

tội như Bản cáo trạng đã truy tố. Số tiền chiếm đoạt được bị cáo đã s dụng để chơi cá độ bóng đã qua mạng và tiêu ài cá nh n hết.

Đại diện Viện iểm sát nh n d n thành phố Hồ Ch Minh trong phần tranh

luận sau hi ph n t ch, đánh giá t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo g y ra, các t nh tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Nguyễn Thành H về các tội: “Lạm dụng t n nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Đồng thời đề nghị Hội đồng t :

Áp dụng điểm b hoản 2 Điều 267 của Bộ luật H nh sự năm 1999, s a đổi

bổ sung năm 2009; điểm a hoản 4 Điều 175; điểm g hoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật h nh sự 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017,

X phạt bị cáo Nguyễn Thành H từ 10 năm đến 12 năm tù về tội “Lạm

dụng t n nhiệm chiếm đoạt tài sản”; từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp h nh phạt, buộc bị cáo chấp hành h nh phạt chung cho cả 02 tội danh là từ 12 năm đến 15 năm tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 30/10/2020.

Đối với phần giải quyết d n sự, l vật chứng và các vấn đề hác đề

nghị l , giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thành H h ng tự bào chữa. Đồng với tội danh Viện

iểm sát truy tố, chỉ in giảm nhẹ h nh phạt.

Luật sư Nguyễn Quang Hải bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành H trình

bày: Đối với tội danh “Lạm dụng t n nhiệm chiếm đoạt tài sản” do quan điểm của luật sư và nhận thức của bị cáo về tội danh là hác nhau nên luật sư h ng tham gia bào chữa. Đối với tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Luật sư đồng về tội danh và điều luật mà Viện iểm sát đã truy tố. Về mức h nh phạt đề nghị em t hoàn cảnh phạm tội của bị cáo. Bị cáo h ng trốn hỏi nơi cư trú, h ng trốn truy nã, cha mẹ bị cáo bị bệnh nên bị cáo có thường uyên về nhà chăm nom thể hiện bị cáo h ng trốn trách trách nhiệm. Về nh n th n, bị cáo có nhiều bằng hen hi c n c ng tác tại tập đoàn dầu h , có nh n

th n tốt, phạm tội lần đầu, đã bồi thường một phần hậu quả của bị hại và được bị

hại bãi nại. Đề nghị Hội đồng t giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo.

Bị cáo đồng với bài bào chữa của vị luật sư và h ng tham gia tranh luận.

Tại cơ quan điều tra, bị hại Lê Quang V ác nhận gia định bị cáo đã bồi

thường số tiền 450.000.000 đồng trong tổng số 878.770.000 đồng chiếm đoạt.

Số tiền c n lại ông V h ng yêu cầu bị cáo bồi thường.

Lời nói sau cùng: Bị cáo in được giảm nhẹ h nh phạt để có cơ hội làm lại

cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng t nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công

an Thành phố Hồ Ch Minh, điều tra viên, Viện iểm sát nh n d n Thành phố

Hồ Ch Minh, iểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng

về th m quyền quy định của Bộ luật tố tụng h nh sự.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan h ng có iến hoặc hiếu nại về hành vi,

quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản

tự hai, biên bản lấy lời hai, biên bản hỏi cung bị cáo, bị hại, người có quyền

lợi nghĩa vụ liên quan đều tr nh bày lời hai hoàn toàn tự nguyện, h ng bị p

cung, nhục h nh. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung, Hội đồng t đánh giá như sau:

Qua th m tra t hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thành H

đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh. Lời hai nhận tội của bị cáo tại

phiên t a được ác định phù hợp với lời hai tại Cơ quan điều tra, lời hai của

bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; biên bản tạm giữ tài liệu, đồ vật;

biên bản nhận dạng; ết quả xác minh, sao kê tài ngân hàng; phù hợp với nội

dung của Kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ hác do Cơ quan điều

tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng t có đủ cơ sở ết

luận:

Bị cáo Nguyễn Thành H và ông Lê Quang V có mối quan hệ quen biết từ

năm 2000 hi cả hai làm chung C ng ty dầu h Petro Mekong. Năm 2008, ng

Lê Quang V hợp tác inh doanh ăng dầu với C ng ty cổ phần Thương mại

Thuận T. Theo ác nhận c ng nợ của C ng ty Thuận T, t nh đến ngày

20/11/2011, ông V c n nợ c ng ty số tiền 1.128.770.000 đồng. Do giai đoạn

này, ông V đang nằm viện để điều trị bệnh, do có m u thuẫn với C ng ty Thuận

T h ng muốn tiếp úc, làm việc và tin tưởng H nên ông V nhiều lần đưa,

chuyển tiền cho H tổng cộng 1.147.000.000 đồng để H thay mặt ông V trả nợ cho Công ty Thuận T, nhưng thực tế H chỉ chuyển trả nợ cho c ng ty Thuận Tiền số tiền 250.000.000 đồng qua tài hoản của c ng ty tại Ng n hàng Sacombank, số tiền c n lại H chiếm đoạt cho bản th n, rồi nhờ đối tượng tên Thơ ( h ng rõ lai lịch) làm nhiều phiếu thu, giấy ác nhận quyết toán c ng nợ giả để hợp thức hóa việc chiếm đoạt tiền của ông V. Số tiền chiếm đoạt được, H s dụng hết vào việc đánh bạc bằng h nh thức cá độ bóng đá qua mạng Internet. Cụ thể:

Từ đầu tháng 11/2011 đến ngày 14/11/2011, ông V đưa cho H nhiều lần

với tổng số tiền mặt 385.000.000 đồng nhưng H h ng chuyển cho C ng ty Thuận T mà thuê đối tượng Thơ ( h ng rõ lai lịch) làm giả phiếu thu ghi số 76/11 ngày 14/11/2011 của C ng ty CPTM Thuận T nội dung ông Lê Quang V n p tiền nợ bán hàng đợt 1 số tiền 367.805.000 đồng.

Từ ngày 26/12/2011 đến ngày 08/3/2012, ông V thực hiện 04 lần chuyển

tiền, tổng số tiền 200.000.000 đồng từ tài hoản 060028666341 của ông V đến tài hoản 060037923489 của H mở tại Ng n hàng Sacombank-Chi nhánh Điện Biên Phủ. Sau từng lần nhận tiền, H tiếp tục thuê đối tượng Thơ làm giả 03 phiếu thu số 57/12 ngày 27/12/2011, số 09/02 ngày 03/02/2012, số 49/02 ngày 22/02/2012 của C ng ty CPTM Thuận T, nội dung ng Lê Quang V nộp tiền nợ bán hàng đợt 2, 3, 4, số tiền thể hiện trên từng phiếu là 50.000.000 đồng.

Từ ngày 05/5/2012 đến ngày 16/7/2012, Ông V chuyển tổng cộng

562.000.000 đồng từ tài hoản số 060028666341 và tài hoản 060049470811 của ông V đến tài hoản 060037923489 của H. H tiếp tục thuê đối tượng Thơ làm giả 01 giấy quyết toán c ng nợ đề ngày 25/4/2012 nội dung ông Phạm Minh H- Giám đốc c ng ty CPTM Thuận T ác nhận ng Lê Quang V đã hoàn trả đầy đủ số tiền c n thiếu của ông V với C ng ty TMCP Thuận T.

Giải th ch việc bị hại Lê Quang V viết giấy đề nghị ác nhận c ng nợ

ngày 20/11/2011 thể hiện bị hại V c n nợ C ng ty Thuận T số tiền 1.128.770.000 đồng và đề nghị được trả trước 367.805.000 đồng, mỗi tháng trả 50.000.000 đồng là m u thuẫn về mặt thời gian với phiếu thu ghi số 76/11 ngày 14/11/2011. Tại phiên t a sơ th m, H hai thời điểm ông V viết giấy đề nghị ác nhận c ng nợ có gọi điện hỏi H nhưng H nói chưa ịp chuyển nên ông V mới ác nhận c ng nợ tạm thời như vậy. Phiếu thu ghi số 76/11 do đối tượng Thơ làm giả, ngày trên phiếu thu do Thơ tự động điền. Đồng thời, H h ng nhớ thời điểm đưa các phiếu thu, giấy ác nhận quyết toán c ng nợ cho ông V.

Căn cứ bản Kết luận giám định số 3279/C54B ngày 05/12/2016 của Ph n

viện Khoa học h nh sự, Bộ C ng an ác định chữ đứng tên “Phạm Minh H” dưới mục “Giám đốc” trên 04 phiếu thu đề ngày 14/11/2011; 27/12/2011; 03/02/2012; 22/02/2012 và trên 01 giấy ác nhận quyết toán c ng nợ đề ngày 245/4/2012 của C ng ty CPTM Thuận T so với chữ đứng tên “Phạm Minh H” trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh là h ng phải do cùng một người ra. H nh dấu tr n có nội dung “C ng ty cổ phần thương mại Thuận T” trên các

phiếu thu và Giấy ác nhận quyết toán c ng nợ nêu trên được làm giả bằng

phương pháp in lưới.

Căn cứ Bản ết luận giám định số 2466/C54B ngày 12/12/2017 của Ph n

viện Khoa học h nh sự, Bộ C ng an ác định chữ dưới mục “KT Người nộp

tiền” trên 02 phiếu thu ngày 14/11/2011 và ngày 27/12/2011 với chứ tên

Nguyễn Thành H trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh là do cùng một người ra.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành H đã phạm vào tội “Lạm dụng

t n nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Xét,

hành vi phạm tội “Lạm dụng t n nhiệm, chiếm đoạt tài sản” của bị cáo thực hiện

trước ngày 01/01/2018 là thời điểm Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi bổ sung

năm 2017 có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, quy định tại Điều 175 của Bộ luật

H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017 là có lợi quy định tại Điều 140

của Bộ luật H nh sự năm 1999. Do đó, Hội đồng t căn cứ hoản 3 Điều 7

của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017; điểm b hoản 2 Nghị

quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội t bị cáo về tội “Lạm

dụng t n nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật H nh

sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017. Mặc dù, Viện iểm sát truy tố bị cáo

về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” nhưng do bị cáo chỉ thực

hiện hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” h ng có hành vi “Làm giả

con dấu của cơ quan tổ chức” nên Hội đồng t chỉ t bị cáo về tội “Làm

giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Do tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”

quy định tại Điều 341 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm

2017 là không có lợi hơn cho người phạm tội nên Hội đồng t căn cứ hoản

1 Điều 7 của Bộ luật H nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) t bị

cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 267

của Bộ luật H nh sự năm 1999, s a đổi bổ, sung năm 2009.

Hội đồng t

t thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy

hiểm cho ã hội, kh ng những m phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp

của người hác được pháp luật bảo vệ mà c n m phạm đến t nh đúng đắn của

trong hoạt động quản l hành ch nh của cơ quan, tổ chức; ảnh hưởng ấu đến uy

tín và hoạt động sản uất, inh doanh của doanh nghiệp; g y mất trật tự, trị an

ã hội. Bị cáo là người trên 18 tuổi, h ng thuộc trường hợp h ng có năng lực

trách nhiệm h nh sự nhưng sau khi nhận tài sản một cách hợp pháp của người

khác v động cơ tư lợi bất ch nh bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối thuê đối tượng

Thơ làm giả 04 Phiếu thu và 01 Giấy ác nhận quyết toán c ng nợ giả rồi

chuyển cho bị hại V để bị hại tin tưởng việc bị cáo đã thanh quyết toán nợ cho

c ng ty Cổ phần Thuận T để chiếm đoạt tiền của bị hại. Mặc dù, quá tr nh điều

tra ác định tổng số tiền bị hại chuyển cho bị cáo là 1.147.000.000 đồng. Tuy

nhiên, Hội đồng t căn cứ lời hai của bị hại, ác nhận c ng nợ của C ng ty

CPTM Thuận T, bản án d n sự sơ th m số 82/2014/DS-ST của T a án nh n d n

quận G Vấp và bản án số 82/2015/DS-PT ngày 19/01/2015 của T a án nh n

d n Thành phố Hồ Ch Minh ác định số tiền bị hại chuyển cho bị cáo để thực hiện việc thanh toán nợ cho Công ty Thuận T là 1.128.770.000 đồng. Trong đó, ngày 13/02/2012 bị cáo đã chuyển số tiền 250.000.000 đồng vào tài hoản 070001475450 của Công ty Thuận T mở tại Ng n hàng Sacomban Tiền Giang nên số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 878.770.000 đồng. Đối với số tiền 18.230.000 đồng, bị cáo, bị hại ác định là tiền chi ph đi lại, ăng e nên ác định đ y là quan hệ d n sự giữa bị cáo và bị hại.

Như vậy, Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp “phạm

tội nhiều lần” của tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và t nh tiết định hung tăng nặng trách nhiệm h nh sự “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên” của tội “Lạm dụng t n nhiệm chiếm đoạt tài sản” nên bị cáo phải chịu h nh phạt quy định tại điểm b hoản 2 Điều 267 của Bộ luật H nh sự năm 1999, s a đổi, bổ sung năm 2009 và điểm a hoản 4 Điều 175 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.

Về t nh tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt nhiều lần,

số tiền mỗi lần chiếm đoạt đều trên mức định lượng cơ bản quy định tại hoản 1 Điều 175 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017 nên thuộc trường hợp “Phạm tội từ 02 lần trở lên” là t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm g hoản 1 Điều 52 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a dổi, bổ sung năm 2017.

Về t nh tiết giảm nhẹ: Quá tr nh điều tra, truy tố, t vụ án án bị

cáo có thái độ thành h n hai báo, ăn năn hối cải; trước phiên t a sơ th m bị cáo đã tác động để gia đ nh bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 450.000.000 đồng và bị hại đã có đơn bãi nại cho bị cáo; ngoài ra, bản th n bị cáo có nh n th n tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá tr nh làm việc tại C ng ty TNHH Dầu h MêKông có nhiều thành t ch trong lao động được Tập đoàn dầu h Việt Nam tặng bằng hen các năm 2003, 2004, 2005, 2008, 2009 nên được xem xét áp dụng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định đểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần h nh phạt.

Do bị cáo có 03 t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự tại hoản 1

Điều 51 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017, 01 tình tình tăng nặng trách nhiệm h nh sự quy định tại hoản 1 Điều 52 của Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại đã có đơn bãi nại nên Hội đồng t xem xét áp dụng hoản 1 Điều 54 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017, quyết định mức h nh phạt dưới mức thấp nhất của hung h nh phạt được áp dụng đối với tội danh “Lạm dụng t n nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm

nh n th n, các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự như đã nêu, Hội đồng t xét thấy cần áp dụng mức h nh phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra hỏi đời sống ã hội một thời gian dài để giáo dục, răn đe và ph ng ngừa chung cho ã hội. Đồng thời áp dụng Điều 55 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp h nh phạt đối với bị cáo.

Về d n sự: Tại phiên t a bị hại Lê Quang V ác nhận gia đ nh bị cáo

đã bồi hoàn số tiền 450.000.000 đồng trong tổng số 878.770.000 đồng tiền

chiếm đoạt. Số tiền c n lại ông V h ng yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó, Hội

đồng t

h ng em t.

Đối với yêu cầu của C ng ty Thuận T đề nghị bị hại V trả lại số tiền

c ng nợ 878.770.000 đồng đã được giải quyết bằng Bản án d n sự sơ th m số:

814/DSST ngày 21/10/2014 của T a án nh n d n quận G Vấp, Thành phố Hồ

Ch Minh (Bản án d n sự phúc th m số: 82/2015/DS-PT ngày 19/01/2015 của

T a án nh n d n Thành phố Hồ Ch Minh) nên Hội đồng t

h ng em t,

giải quyết.

Về l vật chứng:

Đối với 04 phiếu thu đề ngày 14/11/2011, ngày 27/12/2011, ngày

03/02/2012, ngày 22/02/2012 và 01 giấy ác nhận quyết toán c ng nợ đề ngày

25/4/2012 là nguồn chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, t cần

tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph h nh sự sơ th m theo qui định của

Bộ luật tố tụng h nh sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a hoản 4 Điều 175 Bộ luật h nh sự năm 2015, s a đổi bổ

sung năm 2017; điểm b hoản 2 Điều 267 của Bộ luật H nh sự năm 1999, s a

đổi, bổ sung năm 2009; điểm g hoản 1 Điều 52; điểm b, s hoản 1, khoản 2

Điều 51; Điều 38; Điều 50; hoản 1 Điều 54; Điều 55 của Bộ luật h nh sự năm

2015, s a đổi bổ sung năm 2017,

X phạt bị cáo Nguyễn Thành H 08 (tám) năm tù về tội “Lạm dụng t n

nhiệm chiếm đoạt tài sản”; 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan,

tổ chức”. Tổng hợp h nh phạt chung cho cả hai tội danh là 10 (mười) năm tù.

Thời hạn tù t nh từ ngày 30/10/2020.

Căn cứ Điều 90 của Bộ luật Tố tụng h nh sự,

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 04 phiếu thu đề ngày 14/11/2011, ngày

27/12/2011, ngày 03/02/2012, ngày 22/02/2012 và 01 giấy ác nhận quyết toán

c ng nợ đề ngày 25/4/2012 (bút lục 203-206)

Căn cứ hoản 2 Điều 135; hoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng h nh sự

và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án ph h nh sự sơ th m.

Trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có quyền

háng cáo in t phúc th m. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên t a có quyền háng cáo in t phúc th m trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ