vanban.org

Bản án 309/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 01 năm tù (một năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 17-8-2022. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 309/2022/HS-ST
Ngày: 15-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Bảo

Bà Nguyễn Thị Kim Chung

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 299/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thanh T, sinh năm 1997 tại: Tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: 036097006888; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P và bà Đặng Thị D; gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; có vợ là Phạm Thị Thu H và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-8-2022, chuyển tạm giam ngày 26-8-2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Ông Hoàng Quang D

Ông Phan Hồng T1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 16-8-2022, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 167 đường Đò Quan, phường Cửa Nam, thành phố Nam Định phát hiện Lê Thanh T đang đứng một mình có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. T đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi ni lông màu trắng kích thước (4x7) cm, bên trong có 01 túi ni lông màu trắng kích thước (2x2) cm chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (T khai là Methamphetamine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng ký hiệu T và lập biên bản bắt người quả tang đối với Lê Thanh T. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động Iphone màu hồng đã cũ.

Bản kết luận giám định số 1200/KL-KTHS ngày 17-8-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng trong phong bì thư được niêm phong thu giữ của Lê Thanh T gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu T: 0,311 gam.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Lê Thanh T khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16-8-2022, T đi xe ôm từ nhà đến khu vực chợ Đò Quan, thành phố Nam Định gặp và mua của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 túi Methamphetamine với giá 250.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 301/CT-VKS-TPNĐ ngày 18-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Lê Thanh T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại Iphone màu hồng đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Lê Thanh T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thanh T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16-8-2022; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 16-8-2022; Bản kết luận giám định số 1200/KL-KTHS ngày 17-8-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 16-8-2022, tại khu vực trước cửa số nhà 167 đường Đò Quan, phường Cửa Nam, thành phố Nam Định, bị cáo Lê Thanh T đã có hành tàng trữ trái phép 0,311 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Lê Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,311 gam. Vì vậy, bị cáo Lê Thanh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lê Thanh T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt:

Xét bị cáo Lê Thanh T phạm tội phần đầu; bản thân bị cáo có nhân thân tốt; có thời gian phục vụ trong quân đội, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo ở khởi điểm của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Lê Thanh T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Thanh T là vật nhà nước cấm lưu hành, một chai nhựa không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone màu hồng đã cũ là tài sản của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Lê Thanh T, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tách ra để điều tra xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Về án phí:

Bị cáo Lê Thanh T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 01 năm tù (một năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 17-8-2022.

2. Xử lý vật chứng:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1200/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.

Tịch thu tiêu hủy một chai nhựa được niêm phong số 1201KL-KTHS

Trả lại cho bị cáo Lê Thanh T 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu hồng, đã cũ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21-11-2022).

3. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lê Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Lê Thanh T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Lê Thanh T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ