- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Vũ Duy C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Duy C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 309/2019/HS-ST Ngày 18/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT - TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Đừng và ông Y Quý Niê Siêng
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Nguyễn Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 18/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 293/2019/HSST ngày 25/10/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2019/QĐXXST-HS ngày 06/11/2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Duy C; tên gọi khác: không; sinh ngày 01/6/1973; tại tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Số nhà X, đường Ph, tổ dân phố Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 4/12;
Con ông: Vũ Duy Tr (đã chết); Con bà: Đậu Thị L (đã chết); Bị cáo có vợ là Trương Thị Tr, sinh năm: 1972; có 02 con, con lớn sinh năm: 1996, con nhỏ sinh năm: 2004;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - (Có mặt).
* Bị hại: Anh Trần Văn Th, sinh ngày 20/6/2002
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Văn Tr (cha đẻ của anh Th)
Cùng địa chỉ: Thôn Z, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Quốc Kh, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn Z, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk
(Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Duy C đã có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp. Khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 19/4/2019, Vũ Duy C điều khiển xe ôtô biển số 47A-122.38 có bật đèn chiếu sáng phía trước lưu thông trên phần đường bên phải đường Đồng Khởi theo hướng từ đường Nguyễn Chí Thanh về đường Hà Huy Tập, TP. Buôn Ma Thuột. Khi đi đến trước trụ điện số 29, ngã ba nơi giao nhau giữa đường Đồng Khởi với đường Tôn Đức Thắng, phường Tân An, TP. Buôn Ma Thuột, nơi giao nhau không có các trụ đèn tín hiệu giao thông và biển báo đi theo vòng xuyến, có đèn đường chiếu sáng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng và khô ráo, đường vắng. Lúc này C không giảm tốc độ và chú ý quan sát xe đi ngược chiều mà bật đèn xi nhan bên trái đồng thời điều khiển xe với tốc độ 48 km/h (Theo kết quả tra cứu từ giám sát hành trình), chuyển hướng sớm từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái đường Đồng Khởi theo hướng đi để đến đường Tôn Đức Thắng. Khi chuyển hướng đến giữa đường Đồng Khởi thì C phát hiện xe mô tô biển số 47B1-339.55 do anh Trần Văn Th (không có giấy phép lái xe mô tô) không bật đèn chiếu sáng phía trước lưu thông trên phần đường bên phải đường Đồng Khởi theo hướng ngược chiều lại cách khoảng 7-8m, phát hiện xe anh Th gần nên C không kịp lái tránh và đã để bên phải đầu xe ôtô 47A-122.38 va chạm vào phía trước đầu xe mô tô biển số 47B1-339.55, làm người anh Th văng lên va đập vào phía bên phải kính chắn gió trước xe ôtô biển số 47A-122.38 làm nứt vỡ kính rồi rơi tự do sang phía bên trái xe ô tô xuống mặt đường, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả anh Th bị thương được Vũ Duy C và người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh.
Về hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn: Hiện trường của đoạn đường xảy ra vụ án tại trước trụ điện số 29, ngã ba nơi giao nhau giữa đường Đồng Khởi với đường Tôn Đức Thắng, phường Tân An, TP. Buôn Ma Thuột. Đường Đồng Khởi và đường Tôn Đức Thắng đều là những đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 17,50m, không có vạch kẻ đường phân chia phần đường xe chạy. Hai góc nơi đường giao nhau mở rộng hình vòng cung, không có các trụ đèn tín hiệu giao thông và biển báo hiệu đi theo vòng xuyến, trước khi vào nơi giao nhau ở lề đường bên phải từ các hướng đến có đặt “biển báo đường người đi bộ sang ngang R.423b”, khu vực hiện trường không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông. Quá trình khám nghiệm chọn mép đường giả định bên trái đường Đồng Khởi theo hướng từ đường Nguyễn Chí Thanh về đường Hà Huy Tập, TP. Buôn Ma Thuột, làm mép đường chuẩn. Chọn gốc trụ điện số 29, góc giao nhau giữa đường Đồng Khởi với đường Tôn Đức Thắng làm mốc cố định.
- Xe ôtô biển số 47A-122.38, ký hiệu (1), do Vũ Duy C điều khiển chuyển hướng từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái đường Đồng Khởi hướng từ đường Nguyễn Chí Thanh về đường Hà Huy Tập để đến đường Tôn Đức Thắng, TP. Buôn Ma Thuột. Sau tai nạn, xe đỗ tại hiện trường, đầu xe quay về hướng Tây Nam, đuôi xe quay về hướng Đông Bắc.
+ Tâm trục bánh xe trước, bên phải cách mép đường chuẩn là 1,70m và cách mép đường giả định bên trái đường Tôn Đức Thắng hướng từ đường Đồng Khởi về đường Nguyễn Hữu Thọ, thành phố Buôn Ma Thuột là 1,80m.
+ Tâm trục bánh xe sau, bên phải cách mép đường chuẩn là 4,10m.
+ Tâm trục bánh sau, bên trái cách mốc cố định là 7,60m.
- Xe mô tô biển số 47B1-339.55, ký hiệu (2), do anh Trần Văn Th điều khiển lưu thông trên phần đường bên phải đường Đồng Khởi theo hướng ngược chiều lại với xe (1). Sau tai nạn xe ngã sang trái, đầu xe quay về hướng Tây Bắc, đuôi xe quay về hướng Đông Nam.
+ Trục bánh xe trước cách mép đường chuẩn là 3,40m.
+ Trục bánh xe sau cách mép đường chuẩn là 3,10m và cách tâm trục bánh trước, bên phải xe (1) là 1,90m.
- Các dấu vết để lại hiện trường: Vết máu, ký hiệu (3), kích thước (0,60 x 0,40)m, tâm vết nằm ngay mép đường chuẩn và cách trục bánh trước, bên trái xe (1) là 2,20m.
- Vị trí va chạm giữa xe (1) và xe (2) được xác định tương ứng trên mặt đường trùng với tâm trục bánh trước, bên phải xe (1) ở vị trí xe đỗ tại nơi giao nhau giữa đường Đồng Khởi với đường Tôn Đức Thắng, phường Tân An, TP. Buôn Ma Thuột. Cách mép đường chuẩn là 1,70m, cách mép đường giả định bên trái đường Tôn Đức Thắng hướng từ đường Đồng Khởi về đường Nguyễn Hữu Thọ là 1,80m cách trục bánh sau xe (2) là 1,90m và cách mốc cố định là 9,80m.
Quá trình khám nghiệm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Buôn Ma Thuột đã tạm giữ xe ôtô biển số 47A-122.38; xe mô tô biển số 47B1-339.55 cùng giấy tờ liên quan của các xe, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp và chụp ảnh minh họa, để phục vụ công tác điều tra.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 607/TgT-PY, ngày 27 tháng 5 năm 2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận anh Trần Văn Th sức khỏe bị giảm do thương tích gây nên hiện tại là 65%.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 257, ngày 20/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: Chi phí sửa chữa thay thế phụ tùng xe mô tô nhãn hiệu Yamha, số loại Exciter, loại xe hai bánh, màu sơn trắng, biển kiểm soát 47B1-339.55, số máy 55P1087275, số khung E55P10CY087273, dung tích 134, đã qua sử dụng là 31.447.000 đồng.
Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo Công đã bồi thường số tiền 75.500.000 đồng chi phí điều trị thương tích cho anh Th và bồi thường số tiền 20.000.000 đồng chi phí sửa chữa xe mô tô 47B1-339.55 cho anh Kh; Anh Th đã nhận đủ số tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và viết đơn bãi nại cho bị cáo; Anh Kh đã nhận đủ số tiền, tự mang xe mô tô 47B1-339.55 về sửa chữa, không yêu cầu bồi thường, khiếu nại gì về sau.
Tại bản cáo trạng số: 309/CT-VKSTP.BMT ngày 23/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo C, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và theo nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột đã truy tố.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Duy C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Vũ Duy C: Từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
* Các biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 591 Bộ luật dân sự 2015.
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Vũ Duy C đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường xong cho anh Trần Văn Th và anh Trần Quốc Kh, hiện nay gia đình người bị hại không có yêu cầu gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô xe biển số 47B1-339.55 cho anh Kh và trả lại xe ô tô biển số 47A-122.38 cho Vũ Duy C là chủ sở hữu nhận quản lý.
Trả lại giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 660992000066 mang tên Vũ Duy C cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác xét xử.
Bị cáo Vũ Duy C không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, đồng thời cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thể tự cải tạo ngoài xã hội và có thời gian lao động phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Duy C khai nhận: Do không tuân thủ đúng các quy định về tham gia giao thông đường bộ nên vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 19/4/2019, Vũ Duy C điều khiển xe ôtô biển số 47A-122.38 chuyển hướng từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái đường Đồng Khởi để đến đường Tôn Đức Thắng, phường Tân An, TP. Buôn Ma Thuột, đã thiếu chú ý quan sát không nhường đường cho xe mô tô biển số 47B1-339.55 do anh Trần Văn Th điều khiển lưu thông ở phần đường bên phải đường Đồng Khởi theo hướng ngược chiều lại, nên để bên phải đầu xe ôtô biển số 47A-122.38 va chạm vào trước đầu xe mô tô biển số 47B1-339.55 dẫn đến tai nạn giao thông, gây hậu quả làm anh Trần Văn Th bị thương tích tỷ lệ 65%.
Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 309/CT-VKSTP.BMT ngày 23/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Với hành vi như bị cáo đã trình bày ở trên, Vũ Duy C đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự).
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
...
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
...”.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của anh Th. Bị cáo phải nhận thức được rằng, sức khỏe của người khác là bất khả xâm phạm, luôn được pháp luật Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác đều bị trừng trị. Song, do không tuân thủ đúng quy định về tham gia giao thông đường bộ, do chủ quan thiếu chú ý quan sát, khi chuyển hướng từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái và rẽ sang đường khác nhưng không nhường đường cho xe lưu thông ở phần đường bên phải theo hướng ngược chiều, nên bị cáo đã để bên phải đầu xe ô tô biển số 47A-122.38 do bị cáo điều khiển va chạm vào trước đầu xe mô tô biển số 47B1-339.55 do anh Th điều khiển, gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm anh Th bị thương tích tỷ lệ 65%. Hành vi của Vũ Duy C đã phạm vào khoản 23 Điều 8, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ và gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó cần áp dụng mức hình phạt phù hợp tương ứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo C đã thực sự thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại, cho người liên quan và được gia đình bị hại tự nguyện làm đơn bãi nại; Đồng thời trong vụ án này, bị hại - anh Th cũng có một phần lỗi do điều khiển xe mô tô trên 50 cm3 nhưng chưa có giấy phép lái xe, không bật đèn chiếu sáng, chạy quá tốc độ và không giảm tốc độ khi vào đường giao nhau. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng khi lượng hình, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và phạm tội lần đầu; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; Bị cáo có bố, mẹ được Nhà nước tặng Bằng khen trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ... vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết, mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo để tự cải tạo ngoài xã hội, dưới sự giám sát của gia đình và địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân tốt và không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột cho bị cáo C được hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
Đối với các hành vi và đối tượng khác liên quan trong vụ án: Đối với hành vi của anh Trần Văn Th điều khiển xe mô tô trên 50 cm3 nhưng chưa có giấy phép lái xe, không bật đèn chiếu sáng, chạy quá tốc độ và không giảm tốc độ khi vào đường giao nhau nên Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, là phù hợp.
Về các biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: Xét việc bị cáo C đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường xong cho anh Th số tiền 75.500.000 đồng (là số tiền chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút, thu nhập bị mất, tiền tổn thất tinh thần và các khoản chi phí khác) và đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường xong cho anh Kh số tiền 20.000.000 đồng (là số tiền chi phí sửa chữa xe mô tô 47B1-339.55); hiện nay anh Th, anh Kh không yêu cầu bồi thường gì thêm, là sự thỏa thuận tự nguyện, không trái quy định nên cần ghi nhận;
- Về xử lý vật chứng: Xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô xe biển số 47B1-339.55 cho anh Kh và trả lại xe ô tô biển số 47A-122.38 cho Vũ Duy C là chủ sở hữu nhận quản lý là đúng quy định của pháp luật.
Đối với giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 660992000066 mang tên Vũ Duy C (hiện đang lưu giữ trong hồ sơ), cần trả lại cho bị cáo.
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Vũ Duy C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 23 Điều 8; Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ;
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Duy C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Vũ Duy C: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Duy C cho UBND phường Tân An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 46, 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 589, 590, 601 Bộ luật dân sự 2015.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Vũ Duy C đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường xong cho anh Trần Văn Th số tiền 75.500.000 đồng và anh Trần Quốc Kh số tiền 20.000.000 đồng. Hiện nay anh Trần Văn Th và anh Trần Quốc Kh không yêu cầu Vũ Duy C bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô xe biển số 47B1-339.55 cho anh Trần Quốc Kh và trả lại xe ô tô biển số 47A-122.38 cho Vũ Duy C là chủ sở hữu nhận quản lý.
Trả lại giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 660992000066 mang tên Vũ Duy C (hiện đang lưu giữ trong hồ sơ) cho bị cáo.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Duy C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TANDTC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột; - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Lắk; - UBND phường T, Tp. BMT; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký, đóng dấu) VŨ VĂN ĐỨC |