vanban.org

Bản án 308/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án p hí và lệ p hí Tòa án, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bé H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Bé H tranh chấp “Hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” với Anh Phạm Hữu T"
  • Tòa quyết gì? 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 308 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 8 - 2022
V/v tranh chấp “Hôn nhân gia đình -
Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Phùng

2. Ông Võ Thái Quân

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện

Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa :

Ông Nguyễn Văn Hoài - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú

Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:

95/2022/TLST-HNGĐngày 15 tháng 3 năm 2022, về tranh chấp “Hôn nhân gia

đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

115/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2022 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bé H, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: Tổ 6, ấp Bình Q 1, xã Bình Thạnh Đg, huyện Phú T tỉnh An

Giang.

Chỗ ở hiện nay: Tổ 7, ấp Bình Đ 2, xã Bình Thạnh Đ, huyện Phú T, tỉnh

An Giang.

2. Bị đơn: Anh Phạm Hữu T, sinh năm 1984;

Nơi cư trú: Tổ 6, ấp Bình Q 1, xã Bình Thạnh Đ, huyện Phú T, tỉnh An

Giang.

( Chị Bé H và anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 01/3/2022, bản tự khai nguyên đơn chị

Trần Thị Bé H trình bày: Thông qua mai mối chị và anh T được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Đông, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 24/02/2012. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh p húc, về sau p hát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân do anh T thường xuyên uống rượu, kiếm chuyện đánh đập, hành hạ chị, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không thể chung sống với nhau được nữa nên đã ly thân từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay, không ai quan T ai. Hiện tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu ly hôn với anh Phạm Hữu T.

Về con chung: chị và anh T có 03 con chung tên Phạm Minh Tr sinh ngày

27/9/2010,Phạm Trần Tương V, sinh ngày 15/10/2012 và Phạm Gia Th, sinh ngày 15/7/2017, hiện các con đang sống với anh T; nay đồng ý giao 03 con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu,phải trả: Không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

- Bị đơn anh Phạm Hữu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng

vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải

quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, anh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

- Về nội dung: Hôn nhân của chị H và anh T được xác lập trên cơ sở tự

tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp p háp được p háp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị H xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung có 03 con chung tên Phạm Minh Tr sinh ngày 27/9/2010, Phạm Trần Tương V, sinh ngày 15/10/2012 và Phạm Gia Th, sinh ngày 15/7/2017, hiện các con đang sống với anh T. Chị H đồng ý giao 03 con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng cho con nên đề nghị HĐXX xem xét giao con chung cho anh T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại

phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe Kiểm sát viên phát

biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất nội dung giải quyết vụ án, Hội

đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải

quyết ly hôn với anh T nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân

và gia đình – Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ

luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Hữu T là bị đơn có nơi cư trú tại ấp

Bình Quới 1, xã Bình Thạnh Đông, huyện Phú Tân,tỉnh An Giang, căn cứ điểm

a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An

Giang.

Chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T đã được Tòa án triệu tập

hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử

vắng mặt anh, chị theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố

tụng dân sự.

Về nội dung: Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T. Xét

chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện,

hôn nhân của anh chị được xác lập năm 2012 trên cơ sở tự tìm hiểu và chung

sống với nhau, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc

sống chung vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng

quan điểm, vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 01 năm 2021 đến nay, không

hàn gắn được tình cảm vợ chồng trong thời gian dài sau khi ly thân mà anh, chị

mỗi người sinh sống mỗi nơi, không ai quan T ai, từ đó tình cảm vợ chồng

không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt

được; do đó, chị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại

Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: có 03 con chung tên Phạm Minh Trí sinh ngày 27/9/2010,

Phạm Trần Tương Vy, sinh ngày 15/10/2012 và Phạm Gia Thịnh, sinh ngày

15/7/2017,hiện các con đang sống với anh T. Chị H đồng ý giao 03 con chung

cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị H không cấp dưỡng cho con. Xét, từ khi ly

thân đến nay các con do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng đảm bảo p hát triển bình

thường về thể chất, tinh thần và 02 cháu (Tr và V) đã trên 07 tuổi có nguyện

vọng tiếp tục sống với cha nên căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia

đình năm 2014, cần giao 03 con chung cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc,

giáo dục, nuôi dưỡng con đến thành niên hoặc tự lập được. Chị H không phải

cấp dưỡng cho con. Anh T phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi chị H đến thăm

nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để

cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, anh T không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì anh, chị có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu,phải trả: Các bên không tranh chấp,

không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản

án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra

xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Anh T

không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án p hí và lệ p hí Tòa án,

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bé H.

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bé H được ly hôn với anh Phạm Hữu T.

Giấy chứng nhận kết hôn số số 23 ngày 24/02/2012 của Ủy ban nhân dân

xã Bình Thạnh Đông, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cấp cho chị H và anh T không còn giá trị pháp lý khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Giao cho anh T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo

dục, nuôi dưỡng 03 con chung tên Phạm Minh Tr sinh ngày 27/9/2010, Phạm Trần Tương V, sinh ngày 15/10/2012 và Phạm Gia Thịnh,sinh ngày 15/7/2017, đến thành niên hoặc tự lập được; Chị H không phải cấp dưỡng cho con.

Anh T phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi chị H đến thăm nom, chăm

sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

- Về tài sản chung; nợ chung phải thu,phải trả: không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu án p hí hôn nhân, gia đình là

300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai

thu số 0004381 ngày 15/3/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân,

tỉnh An Giang (đã nộp đủ). Anh T không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống

đạt hoặc niêm yết bản sao Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành

án dân sự./.

Cỡ chữ