vanban.org

Bản án 308/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Ông Bùi Đình N được ly hôn với bà Lê Nguyễn Thiên H.

Về con chung: Giao Ông Bùi Đình N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Lê Thảo U, sinh ngày 14/01/2004. Ông N không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Bà Lê Nguyễn Thiên H được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung; Không ai được cản trở cha mẹ th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông Bùi Đình N được ly hôn với bà Lê Nguyễn Thiên H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 308/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 28-4-2021
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Xuyến;

2. Ông Nguyễn Văn Quang;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trinh – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường – Kiểm Sát Viên.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 948/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn số 75/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Bùi Đình N, sinh năm 1970

Địa chỉ: 16/16/75 Đường X, Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Lê Nguyễn Thiên H, sinh năm 1970

Địa chỉ: 16/16/75 Đường X, Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn ly hôn và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn ông Bùi Đình N trình bày:

Ông N và bà H tự nguyện chung sống và có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28 do UBND Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/6/1996. Vợ chồng có 03 con chung tên Bùi Lê Tuyết N, sinh ngày 09/7/1998 và Bùi Đình N K, sinh ngày 25/9/2001, Bùi Lê Thảo U, sinh ngày 14/01/2004.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh doanh. Hai vợ chồng thường xuyên tranh cãi, dù đã cố gắng hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Ông N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn nên ông yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Con chung Bùi Lê Tuyết N, sinh ngày 09/7/1998 và Bùi Đình N K, sinh ngày 25/9/2001 đều đã trưởng thành. Ông N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Lê Thảo U, sinh ngày 14/01/2004 và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: các đương sự đã chấp hành qui định pháp luật, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng đúng theo qui định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết Tòa án:

Nguyên đơn ông Bùi Đình N khởi kiện, yêu cầu ly hôn với bà Lê Nguyễn Thiên H nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn. Bị đơn cư trú tại Quận 3 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng:

Nguyên đơn ông Bùi Đình N có đơn đề nghị được vắng mặt khi Tòa án tiến hành xét xử vụ án ly hôn. Bà Lê Nguyễn Thiên H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần mà vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông N, bà H.

Về hôn nhân:Căn Giấy chứng nhận kết hôn số 28 do UBND Phường Y, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/6/1996 nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn ông N cho rằng thời gian đầu hôn nhân, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp, vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không được. Vì vậy, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2017 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng nên ông N yêu cầu ly hôn với bà H.

Tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định căn cứ cho ly hôn là về việc vợ, chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài. Vợ chồng không còn chung sống, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau do đó mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N.

Về nuôi con chung :

Tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con…”

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H đã nhận được giấy triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu nuôi con của ông N. Hiện tại ông N đang trực tiếp nuôi con. Trẻ Bùi Lê Thảo U có nguyện vọng được sống cùng ba. Do đó, yêu cầu nuôi con chung của ông N là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ông N không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu cấp dưỡng của nguyên đơn.

Về tài sản chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Ông Bùi Đình N phải chịu án phí ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 267, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a Khoản 5, điểm b Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử :

1.Về hôn nhân: Ông Bùi Đình N được ly hôn với bà Lê Nguyễn Thiên H.

2.Về con chung: Giao Ông Bùi Đình N trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Lê Thảo U, sinh ngày 14/01/2004. Ông N không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Bà Lê Nguyễn Thiên H được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung; Không ai được cản trở cha mẹ thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Trong quá trình nuôi dưỡng, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản và nợ chung: ông Bùi Đình N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Ông Bùi Đình N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007969 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3. Ông N đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Bùi Đình N và bà Lê Nguyễn Thiên H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ