- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S bị xét xử về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm “Tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 308/2017/HSST Ngày 22-11-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quân Vƣơng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thụy Vân Hà
2. Ông Từ Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 316/2017/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 317/2017/HSST-QĐ ngày 10 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S, sinh năm 1981 tại tỉnh Quảng Bình; thƣờng trú: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh bắt cá; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con Nguyễn Văn X, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1951; vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; có 01 con sinh năm 2006; bị cáo có 04 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 25/7/2017 theo Quyết định truy nã số 04 ngày 19/12/2011 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Trƣơng P, sinh năm 1987 và bà Lê Thị H, sinh năm 1963; Cùng trú tại địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Đào Nữ Lê H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ 14, ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Năm 2011, Công an thị xã Dĩ An phát hiện tại địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng có nhiều nhóm tổ chức tiêu thụ xe mô tô các loại do ngƣời phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã tiến hành, bắt giữ khởi tố điều tra làm rõ hành vi phạm tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có của các nhóm do Nguyễn Văn N, Dƣơng Thị T, Nguyễn Văn S và Võ Ngọc L cầm đầu. Trong nhóm có phân công đối tƣợng trực tiếp có mặt tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để mua xe của các đối tƣợng phạm tội mà có và ngƣời vận chuyển về huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc đƣa sang Capuchia tiêu thụ.
Nguyễn Văn S là anh ruột của Nguyễn Văn N. Tháng 02/2010, S đứng ra tổ chức một đƣờng dây tiêu thụ xe do ngƣời khác phạm tội mà có. Sang phân công các bị can với nhiệm vụ cụ thể nhƣ sau:
Nguyễn Văn S thuê vợ chồng Lê Trƣơng P và Đào Nữ Lệ H đứng ra thu mua xe do các đối tƣợng phạm tội đem đến bán. P và H kiểm tra xe, báo đời xe và phần trăm giá trị xe cho S biết để S thỏa thuận giá với các đối tƣợng bán xe. S giao cho P, H từ 15.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để mua xe, mỗi tháng S trả tiền công cho P và H 25.000.000 đồng. Bên cạnh đó P còn làm nhiệm vụ vận chuyển xe về tỉnh Bình Phƣớc. Từ khoảng tháng 6/2011 đến tháng 9/2011 P và H mua cho S đƣợc 45 xe mô tô các loại. Ngày 15/9/2011, P mua 06 xe mô tô các loại biển số: 61R2-4991, 60X7-8313; 61N1-5317, 54U3-6643; 54S1-7063; 51R3-0903 của các đối tƣợng trộm cắp (chƣa xác minh đƣợc nhân thân lai lịch) để chuyển lên huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc cho S đƣa qua Campuchia nhƣng chƣa kịp đem đi tiêu thụ thì P và H bị bắt giữ cùng tang vật.
Sang phân công Lê Thị H và Nguyễn Văn Đ thay nhau làm nhiệm vụ vận chuyển xe từ phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng về huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc. Mỗi xe vận chuyển về đến huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc giáp biên giới Campuchia đƣợc S trả công từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng.
Kết luận định giá số 205/BB.ĐG ngày 29/9/2011 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An xác định trị giá 06 xe xe mô tô các loại biển số: 61R2-4991, 60X7-8313; 61N1-5317, 54U3-6643; 54S1-7063; 51R3-0903 có tổng giá trị là 62.000.000 đồng. Quá trình điều tra cho đến tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại đối với kết quả định giá.
Sang khai nhận quá trình tiêu thụ xe do ngƣời khác phạm tội mà có Sang thu lợi bất chính đƣợc 42.000.000 đồng.
Đối với Nguyễn Văn N, Dƣơng Thị T, Võ Ngọc L và các đồng phạm đã bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An đƣa ra xét xử tại bản án số 269/HSST/2012 ngày 24/8/2012.
Cáo trạng số 300/QĐ– KSĐT ngày 18 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Nguyễn Văn S về “Tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo Điểm a, c khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a, c khoản 2, Điều 250; Điểm p, khoản 1 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đã đƣợc xử lý theo bản án hình sự số 269/HSST/2012 ngày 24/8/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng tháng 4/2011, Nguyễn Văn S đứng ra tổ chức mua bán, tiêu thụ xe do các đối tƣợng phạm tội mà có. S thuê vợ chồng Lê Trƣơng P và Đào Nữ Lệ H thu mua xe do ngƣời khác phạm tội mà có. Đồng thời S phân công Lê Thị H và Nguyễn Văn Đ thay nhau vận chuyển xe từ phƣờng An Bình đến huyện Bù Đốp, tỉnh Bình để S đƣa qua Campuchia tiêu thụ, mỗi xe S trả công cho H và Đ từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Ngày 15/9/2011, P mua 06 xe mô tô các loại biển số: 61R2-4991, 60X7-8313; 61N1-5317, 54U3-6643; 54S1-7063; 51R3-0903 của các đối tƣợng trộm cắp (chƣa xác minh đƣợc nhân thân lai lịch) để sau đó chuyển lên huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phƣớc giao cho S đƣa qua Campuchia nhƣng chƣa kịp đem đi tiêu thụ thì P và H bị bắt giữ cùng tang vật. Riêng S bỏ trốn khỏi nơi cƣ trú.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Hành vi biết rõ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có nhƣng vẫn tổ chức tiêu thụ nhằm thu lợi bất chính của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Cáo trạng số 300/QĐ– KSĐT ngày 18 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên, truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về “Tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” với 02 tình tiết định khung “Có tổ chức” và “Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn” theo Điểm a, c khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ; xâm phạm trật tự an toàn xã hội, bị cáo nhận thức rõ tài sản là do phạm tội mà có nhƣng vì tham lam tƣ lợi, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, sau khi đồng bọn bị bắt, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố và xét xử. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Trong vụ án có tính chất đồng phạm có tổ chức, đƣợc phân nhiệm vụ và vai trò cụ thể; bị cáo Nguyễn Văn S là ngƣời đứng ra tổ chức, phân công cho P và H có nhiệm vụ mua xe, phân công cho H và Đ nhiệm vụ nhận xe và vận chuyển lên tỉnh Bình Phƣớc cho S.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; có thái độ ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động, chƣa có tiền án tiền sự.
Xét, về mức hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Văn S là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo nên có cơ sở chấp nhận.
Xử lý vật chứng:
- Đã đƣợc xử lý tại Bản án hình sự số 269/2012/HSST ngày 24/8/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đối với số tiền 42.000.000 đồng bị cáo khai thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nhƣng không có cơ sở xác định nên không buộc bị cáo phải giao nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.
Đối với Nguyễn Văn N, Dƣơng Thị T, Võ Ngọc L, Lê Trƣơng P, Đào Nữ Lệ H, Lê Thị H, Nguyễn Văn Đ và các đồng phạm đã bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An đƣa ra xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số 269/2012/HSST ngày 24/8/2012.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm “Tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có”.
Áp dụng Điểm a, c khoản 2 Điều 250; Điểm p, khoản 1 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2017.
2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 (Hai trăm nghin) đồng án phí hình sự̀ sơ thẩm.
Bị cáo có mă ̣t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (03); - Chi cục THA thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (04); - THA hình sự (02); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quân Vƣơng |