vanban.org

Bản án 307/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 03/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

[2]. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025. Xử phạt: Bị cáo Lê Đình T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ ĐÌNH TUẤN - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật sự; Điều 106 Bộ luật tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 307/2026/HS ST
Ngày 03/6/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Mạnh Hùng, bà Trần Thị Kim Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Linh Chi, ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thành Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 275/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2026 theo định đưa vụ án ra xét xử số:335/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ tên: Lê Đình T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1978 tại Thanh Hóa; Số CCCD 038078008278; HKTT: TDP H, phường N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở : Số A ngách C Đ, phường Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Đình T1 (SN 1952); Con bà: Lê Thị B (SN 1953); Vợ: Nguyễn Thị L (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt quả tang vào ngày 04/02/2026, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Lê Đình T nảy sinh ý định mua ma tuý Heroine sau đó đem đi bán lại để kiếm lời. Cụ thể: Vào cuối tháng 01/2026, T sử dụng tài khoản zalo "Lê Đình T" để gọi điện đến tài khoản zalo "Had" của T2 (T không rõ lai lịch cụ thể mà chỉ biết T2 sinh năm 1977 và làm xe ôm tại gần Bến Xe N) để mua ma tuý Heroine. Sau đó, T gặp T2 tại đường G, đoạn đối diện chùa P, hướng đi T, Hà Nội. Tại đây T đã mua của T2 03 gói ma túy Heroine với giá 500.000đồng. Sau khi nhận 03 gói ma túy T cất dấu trong người mang đi tìm người có nhu cầu mua ma túy thì bán lại kiếm lời. T dự định sẽ bán 03 gói ma túy trên với giá 1.000.000 đồng. Nếu bán hết, T sẽ hưởng lợi số tiền 500.000đồng. Đến khoảng 10 giờ 00 ngày 04/02/2026, khi T đang đi xe máy lang thang đến khu vực ngã ba cuối ngõ A phố T, tổ B phường L, thành phố Hà Nội thì bị Tổ công tác Công an phường L đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát thấy T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Cơ quan Công an đã thu giữ trong túi áo khoác Grap phía trước bên trái của T 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, kích thước (1,5x1,5)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng; thu giữ trong túi áo khoác G phía trước bên phải của T 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, kích thước (2x2)cm bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, kích thước (2x1,5)cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của Lê Đình T: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 18F5- 7466, số máy HC09E5178180, số khung RLHHC09045Y561825 (xe đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A18, kiểu máy CPH2591, màu xanh, có số Imei1: 866067063246054, Imei2: 866067063246047 (đã qua sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản, tạm giữ tang vật, phương tiện và đưa T về trụ sở để làm rõ.

Tại Bản kết luận số 1832/KL-KTHS ngày 13/02/2026 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận về tang vật thu giữ của Lê Đình T: Chất bột màu trắng bên trong 03 gói (trong đó 01 gói giấy bạc màu vàng, 02 gói giấy bạc màu trắng) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,683 gam.

Tại Bản trạng số 106/CT-VKSKV3 ngày 15 tháng 5 năm 2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội truy tố bị cáo Lê Đình T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; Điều 106 Bộ luật tụng hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Lê Đình T từ 39 tháng đến 42 tháng tù.

+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng là ma tuý loại Heroine thu giữ của bị cáo.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A18, kiểu máy CPH2591, màu xanh, có số Imei1: 866067063246054, Imei2: 866067063246047 (đã qua sử dụng) và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 18F5- 7466, số máy HC09E5178180, số khung RLHHC09045Y561825 (xe đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A18, kiểu máy CPH2591, màu xanh, có số Imei1: 866067063246054, Imei2: 866067063246047 (đã qua sử dụng).

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi Mua bán trái phép chất ma túy như bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi đã thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối hận và xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi bị truy tố:

Qua phần xét hỏi công khai tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa đúng với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 04/02/2026, tại khu vực ngã ba cuối ngõ A phố T, tố 20 phường L, Hà Nội, Lê Đình T có hành vi cất giấu 0,683 gam ma túy loại Heroine mục đích để bán kiếm lời thì bị Tổ công tác Công an phường L, Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi cất giấu trái phép 0,683 gam ma túy loại Heroine với mục đích bán để kiếm lời mà Lê Đình T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, bởi hành vi đó tiếp tay cho tội phạm ma túy ngày càng phát triển, làm gia tăng người nghiện ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội truy tố bị cáo Lê Đình T về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng phạm tội nghiêm trọng, do đó cần phải có mức hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, gia đình bị cáo có công với nước (mẹ bị cáo được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bố bị cáo được tặng kỷ niệm chương thanh niên xung phong Việt Nam làm nhiệm vụ Quốc tế giúp Lào) bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (đã ly hôn vợ, con bị cáo bị thiểu năng trí tuệ hiện đang ở với bố mẹ bị cáo, bố mẹ bị cáo già yếu bị bệnh tiểu đường và bệnh viêm loét dạ dày) bị cáo là trụ cột trong gia đình (lao động chính) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Vì vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với số ma túy Heroine thu giữ của bị cáo, đây là vật nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS: 18F5- 7466. Quá trình điều tra xác định: Chủ xe là anh Phạm Văn C (Địa chỉ: TT R, N, Nam Định, H là: Xã R, tỉnh Ninh Bình). Tra cứu xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Tuy nhiên, hiện không xác định được nhân thân, nơi ở của anh Phạm Văn C, Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu của chiếc xe trên nhưng hiện chưa có kết quả. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai mua xe máy từ lâu của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường G với giá 5.000.0000 đồng để đi làm nghề chạy xe ôm, có giấy viết tay và có đăng ký xe máy nhưng bị cáo đã làm thất lạc và không nhớ thông tin người bán xe. Xét thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng đi mua ma tuý vì vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A18 màu xanh, quá trình điều tra xác định là tài sản của T sử dụng vào việc giao dịch mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với người đàn ông tên T2 đã bán ma túy cho T, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải T chỉ dẫn địa điểm mua ma túy, người đàn ông đã bán ma túy, kết quả: T chỉ được địa điểm mua ma túy là đường G, đoạn đối diện chùa P, hướng đi T, Hà Nội nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy. Tại Công văn số 1102/2026/CVZA-VNGG ngày 27/03/2026 của Công ty cổ phần T4: Sau khi kiểm tra và rà soát, Công ty Cổ phần T4 thấy rằng thông tin các tài khoản zalo tên "Had" phía quý cơ quan cung cấp không đủ nên VNGG không hỗ trợ cung cấp thông tin theo yêu cầu của Cơ quan điều tra. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ nên HĐXX không xét.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

[2]. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2026.

[3]. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật sự; Điều 106 Bộ luật tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín, tại các mép dán có chữ ký của giám định viên - Nguyễn Thị T3, cán bộ Công an phường L, đối tượng Lê Đình T (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 04/2/2026 tại trụ sở công an phường L- thành phố Hà Nội; Bản kết luận giám định số 1832/KL - KTHS ngày 13/2/2026 của Phòng K - Công an thành phố H).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A18, kiêu máy CPH2591, màu xanh, IMEI 1:866067063246054, IMEI 2: 866067063246047 (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại WaveA, màu đỏ, biển kiểm soát: 18F5-7466, số máy: HC09E5178180, số khung: RLHHC09045 Y561825, (theo phiếu trả lời xác minh xe ngày 04/02/2026 là xe máy nhãn hiệu WAVE, số loại: 100, màu sơn: Đỏ, biển số: 18F5-7466, chủ xe: Phạm Văn C, số máy: HC09E5178180, số khung:RLHHC09045 Y561825, dung tích xi lanh: 100 cm3) Tình trạng xe: cũ nát, đã qua sử dụng, không gương chiếu hậu, nhiều chỗ trầy xước, hoen gỉ.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2026 giữa Công an thành phố H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Hà Nội.

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ