- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Nguyễn văn T"
- Tòa quyết gì? 82, Điều 83, 84, 116 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình anh T
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH ANGIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 307/2020/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 8 – 2020 “V/v ly hôn giữa chị L và anh T” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Hồ Thị Kim Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ngọc Anh
2. Ông Lê Văn Phương
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân – Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Phú T, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú T tham gia phiên tòa:
Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Phú T xét xử sơ thẩm
công khai vụ án thụ lý số: 217/2020/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2020 về
tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2020/QĐST-HNGĐ
ngày 04 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Hoa L, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng
mặt).
Địa chỉ: tổ 01, ấp Nhơn Th, xã Nhơn N, huyện Phong Đ, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Trung 2, xã T Trung, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 5 năm 2020 và trong quá trình giải quyết
vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L trình bày:
- Quan hệ hôn nhân: Năm 2016 chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn,
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nhơn N, huyện Phong Đ, thành phố Cần Thơ, Giấy chứng nhận kết hôn số 79/2016 ngày 05-7-2016. Sau khi cưới chị ở bên nhà chồng, đến tháng 02 năm 2018 phát sinh mâu thuẫn do anh T không lo làm ăn, bất đồng về quan điểm, thường xuyên cãi nhau, tháng 3 năm 2018 chị bỏ về nhà mẹ ruột ở, anh T không đến hàn gắn, từ đó đến nay vợ chồng ly thân. Nay, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T. Ngày 05-6-2020 chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại văn bản ngày 31-7-2020 anh Nguyễn Văn T (là bị đơn) trình bày, năm
2016 anh và chị L tìm hiểu về tình cảm khoảng 06 tháng và anh chị đồng ý kết hôn, đăng ký kết hôn tại quê chị L. Vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 02 năm 2020 phát sinh mâu thuẫn và ly thân do không phù hợp cách sống. Nay, chị L yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn. Anh T đề nghị xét xử vắng mặt.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Đức Phúc, sinh
ngày 01-5-2018, chị L đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị L yêu cầu tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con hằng tháng, mỗi tháng 1.000.000đ. Anh T đồng ý giao con cho chị L nuôi, anh đồng ý cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000đ.
- Về chia tài sản và nợ chung: hai bên đương sự khai không có.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về giải quyết vụ án, hôn nhân của chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, anh chị mâu thuẫn và không còn chung sống từ tháng 3 năm 2018 cho đến nay, chị L xin ly hôn và anh T đồng ý ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh T; về nuôi con chung, chị L yêu cầu tiếp tục nuôi con Nguyễn Đức Phúc và yêu cầu anh T cấp dưỡng, từ khi ly thân đến nay chị L nuôi con ổn định, anh T cũng đồng ý giao con cho chị L nuôi và cấp dưỡng cho con, theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị L, anh T cấp dưỡng nuôi con; về chia tài sản và nợ chung không có; về án phí chị L phải chịu án phí hôn nhân, anh T phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị Hoa L khởi kiện yêu cầu ly hôn với
anh Nguyễn Văn T, Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại
khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị L và anh T đều có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn
tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị L và anh T.
Về nội dung:
Hôn nhân của chị L và anh T là hợp pháp, vì anh chị có đăng ký kết hôn
theo quy định pháp luật. Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thấy rằng vợ chồng
mâu thuẫn, có thời gian ly thân, chị L yêu cầu ly hôn, anh T đồng ý ly hôn. Cho
thấy hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn
nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L và đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát, cho ly hôn giữa chị L và anh T.
Về nuôi con chung: hai bên không tranh chấp và thống nhất giao cháu
Nguyễn Đức Phúc cho chị L nuôi dưỡng. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân
và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cháu Phúc cho chị
L trực tiếp nuôi.
Về cấp dưỡng cho con, chị L yêu cầu anh T cấp dưỡng hằng tháng, mỗi
tháng 1.000.000đ, anh T đồng ý cấp dưỡng cho con, phù hợp với khoản 2 Điều 82
của Luật Hôn nhân và gia đình quy định người không trực tiếp nuôi con có N vụ
cấp dưỡng cho con. Do đó, chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng cho con của chị L và đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát, anh T cấp dưỡng cho con theo quy định.
Về mức cấp dưỡng, căn cứ mục 2 phần III của công văn số
24/1999/KHXX ngày 17-3-1999 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn mức đóng
góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con tối thiểu không dưới 1/2 (một phần hai) mức
lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Hiện nay, mức
lương cơ sở là 1.490.000đ, nếu tính ½ thì bằng 745.000đ/tháng. Chị L yêu cầu cấp
dưỡng 1.000.000đ/tháng, anh T đồng ý, phù hợp với quy định nêu trên nên được
chấp nhận. Như vậy, anh T cấp dưỡng cho con Nguyễn Đức Phúc mỗi tháng
1.000.000đ, kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Phúc thành
niên.
Căn cứ khoản 3 Điều 82, Điều 83, 84, 116 Luật Hôn nhân và gia đình anh
T có quyền, N vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; vì lợi ích của con khi
cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay
mức cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: không có.
Về nợ chung: ghi nhận hai bên xác định không có nợ chung, nhưng sau
khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
Về án phí sơ thẩm, chị L phải chịu án phí hôn nhân và anh T phải chịu
án phí cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 2 và khoản 3 Điều
82, Điều 83, 84, 116 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Nguyễn
Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 79/2016 ngày 05-7-2016 của Ủy ban nhân dân xã Nhơn N, huyện Phong Đ, thành phố Cần Thơ không còn giá trị pháp lý.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung tên Nguyễn Đức Phúc, sinh ngày 01-5-2018 cho chị L
trực tiếp nuôi, chị L đang nuôi dưỡng.
2.2. Anh Nguyễn Văn T có N vụ cấp dưỡng cho con Nguyễn Đức Phúc hằng
tháng, mỗi tháng 1.000.000đ, kể ngày Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Phúc thành niên.
2.3. Anh Nguyễn Văn T không trực tiếp nuôi con, anh có quyền và N vụ
thăm nom con mà không ai được cản trở.
2.4. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu
Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản: không có.
Về nợ chung: ghi nhận hai bên xác định không có nợ chung, nhưng sau khi
bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng
minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu
trách nhiệm trong vụ án khác.
4. Về án phí sơ thẩm:
4.1. Chị Nguyễn Thị Hoa L phải chịu án phí hôn nhân 300.000đ được trừ vào
tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0006726 ngày 05-6-
2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú T, tỉnh An Giang.
4.2. Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí cấp dưỡng 300.000đ.
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa Th thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú T; - Cơ quan Thi hành án huyện Phú T; - UBND xã Nhơn N,H.Phong Đ, TP.Cần Thơ; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Kim Phƣơng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |