- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T ly hôn ông V"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 307/2018/HNGĐ-ST Ngày: 07/9/2018 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI
- Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Văn Chánh
- Bà Thiều Thị Phi Loan
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 908/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/8/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 567/2018/QĐST-HNGĐ ngày 17/8/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tổ 4, ấp T, xã P, TP. B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Lâm V, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Tổ 3, ấp T, xã P, TP. B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông V vắng mặt không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Lâm V xây dựng gia đình với nhau vào tháng 11 năm 2015 trên cơ sở cả hai tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, TP. B, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ tháng 10 năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến cả hai sống ly thân gần 02 năm nay, không ai còn quan tâm đến ai. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông V.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 20/10/2015. Ly hôn, bà xin được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Lâm V:
Mặc dù đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên không có lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Nguyễn Lâm V vẫn vắng mặt không rõ lý do, còn bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông V theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điểu 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Lâm V tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào tháng 11 năm 2015 trên cơ sở cả hai tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, TP. B, tỉnh Đồng Nai nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, bà T khởi kiện vụ án xin ly hôn nên Hội đồng xét xử áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Về yêu cầu xin ly hôn của bà T nhận thấy:
Bà T xin ly hôn ông V với lý do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến cả hai sống ly thân gần 02 năm nay, không ai còn quan tâm đến ai. Về phía ông V mặc dù đã được Tòa án nhân dân TP. B đã triệu tập hợp lệ rất nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của bà T. Do ông V vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể tiến hành hoà giải đoàn tụ được.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được động viên hòa giải nhiều lần nhưng bà T vẫn kiên quyết xin ly hôn với ông V. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà T và ông V đã trầm trọng nhưng cả hai không cố gắng khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể hàn gắn, đoàn tụ, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà T.
Về con chung:
Bà T và ông V có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 20/10/2015. Ly hôn, bà T xin được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy ông V không lên Tòa án làm việc nên không có ý kiến về việc con chung, cháu T hiện dưới 36 tháng tuổi cần có sự chăm sóc của mẹ nên Hội đồng xét xử giao cháu T cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động, do bà T không yêu cầu nên tạm thời ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà T trình bày thì về tài sản chung và nợ chung ông bà không có. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến của ông V về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này có tranh chấp, các bên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Bà T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, riêng bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T; Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 20/10/2015 cho bà T chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời ông V không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: đề nghị tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các bên có yêu cầu; Về án phí: Bà T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Lâm V.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Thanh T, sinh ngày 20/10/2015 cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động, tạm thời ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông V có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của các con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai số 006745 ngày 13/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
5. Bà T và ông V có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – chủ toạ phiên tòa
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đ; -VKSND TP.B; -THADS TP.B; -Các đương sự; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu (3). | Bùi Lan Hƣơng |