vanban.org

Bản án 307/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 27/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Đỗ Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Đỗ Văn C 20 (hai mƣơi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/06/2017 (ngày bắt quả tang). Về vật chứng (Hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo biên bản giao nhận vật chứng số 330/2017 ngày 26/09/2017), căn cứ Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đỗ Văn C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đỗ Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
TP. HÀ NỘI
-----

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 307/2017/HSST
Ngày: 27/09/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu Thúy Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Vỹ 2. Ông Nguyễn Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhâm dân quận Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Vân - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 09 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 335/2017/HSST ngày 14/09/2017 theo quyết đinh đưa ra xét xử số 301/QĐXX - ST ngày 14/09/2017 đối với bị cáo:

ĐỖ VĂN C, sinh 1960 tại Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT: Số 5, VĐ, phường B, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: Số 5 ngõ 130/8, phố N, phường T, quận M, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 04/10; Dân tộc: Kinh; Con ông: Đỗ Văn K và bà Trần Thị X; Có vợ là Hoàng Thị M và 03 con; Tiền án: Ngày 09/07/1990, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo tài sản của công dân” (trị giá tài sản 196.000 đồng). Hạn thử thách 16 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật; Ngày 30/07/2008, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tiền sự: Năm 2004, năm 2013, Công an phường Thanh Trì đưa đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng; Ngày 18/12/2016, Công an quận Hai Bà Trưng xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị bắt quả tang ngày 09/06/2017, tạm giữ ngày 10/06/2017, tạm giam ngày 16/06/2017. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 09/06/2017, tại đối diện số nhà 169 phố Thanh Lân, phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, công an phường Thanh Trì phát hiện, bắt quả tang Đỗ Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của C 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng - qua giám định là ma túy loại Heroin, trọng lượng 0,146 gam. Tại cơ quan điều tra, C khai nhận: Đây là số ma túy C vừa mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực đê Nguyễn Khoái, đoạn nối lên cầu Vĩnh Tuy với giá 130.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. C không có ý định bán lại số ma túy này cho người khác.

Tại bản cáo trạng số 301/CT-VKS ngày 07/09/2017, Viện kiểm sát Nhân dân Quận Hoàng Mai truy tố Đỗ Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017; Công văn 276/ TANDTC-PC, xử phạt: Đỗ Văn C từ 20 đến 24 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,146 gam Heroin; Trả lại bị cáo 01 xe máy WAKEUP BKS 89F2- 9180 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Văn C giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định của Pháp luật.

Ngày 09/06/2017, Đỗ Văn C đã có hành vi cất giữ trái phép 0,146 gam Heroin - một chất ma túy độc hại nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán lại cho người khác. Đối chiếu quy định của Pháp luật, Đỗ Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đỗ Văn C, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Ma túy là hiểm hoạ của xã hội: bởi nó không chỉ là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức và lối sống, mà còn làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo đã có 02 tiền án, 03 tiền sự trong đó có 01 tiền sự còn trong thời hiệu. Mặc dù các án tích đã được xóa, 02 tiền sự đã hết thời hiệu nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng không chịu sửa chữa, thể hiện thái độ coi thường Pháp luật.

Để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử so sánh hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thấy: mức hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nhẹ hơn so với Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo hướng có lợi cho bị cáo, thực hiện Nghị quyết số 41/12017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội “về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự 101/2015/QH13, luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015QH13”, cần vận dụng mức hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,146 gam Heroin thu giữ của Đỗ Văn C là chất độc hại, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Ngoài ra, khi bắt giữ bị cáo, cơ quan Công an còn thu giữ của bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu WAKEUP BKS 89F2- 9180 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT.

Đối với chiếc xe máy, qua xác minh, xe mang tên chủ sử dụng là bà Sái Thị T (địa chỉ: xã Q, huyện V, Hưng Yên). Bà T mua chiếc xe máy cuối năm 2000 để sử dụng, đến cuối năm 2009 thì bán cho người khác. Hiện nay, bà T không còn liên quan gì đến chiếc xe. Bị cáo khai mua chiếc xe cuối năm 2016 để làm phương tiện đi lại, hiện không nhớ tên, tuổi người bán xe. Qua tra cứu, xe không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Xét chiếc xe máy và điện thoại là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo 99 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Đỗ Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng Khoản 1 Điều 194, điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999;

- Áp dụng Nghị quyết số 41/12017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội “về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa dổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự 101/2015/QH13, luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015QH13”; Khoản 3 Điều 7, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt: Đỗ Văn C 20 (hai mƣơi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/06/2017 (ngày bắt quả tang).

Về vật chứng (Hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo biên bản giao nhận vật chứng số 330/2017 ngày 26/09/2017), căn cứ Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,146 gam Heroin thu giữ của Đỗ Văn C;

- Trả lại bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu WAKEUP BKS 89F2-9180, có số khung: 1001695, số máy: 0022474 và 01 điện thoại di động FPT màu đen, viền xanh lá cây có số Imei 1: 980029005928851; Imei 2: 980029005969657

Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ