vanban.org

Bản án 306/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 15/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê M N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê M N, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/6/2022 đến ngày 23/6/2022. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. tịch thu tiêu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Le M N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê M N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 306/2022/HS-ST
Ngày: 15 -11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ -TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Chung Kim Sang

- Bà Nguyễn Thị Kim Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Thiềm Văn Ty- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê M N, sinh ngày 27/3/2003. Tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Nơi ĐKTT và chỗ ở: Số 59/4 đường H, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê M và bà Nguyễn M.

Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị bắt tạm giam ngày 15/6/2022, tại ngoại ngày 23/6/2022. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 50 phút ngày 15/6/2022, tại trước khách sạn Kim Ph, địa chỉ lô A đường B, phường V, thành phố R, Công an thành phố Rạch Giá kết hợp Công an phường Vĩnh Bảo bắt quả tang Lê M N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần (bên trái phía trước) bị cáo đang mặc 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có chứa 05 viên nén hình tròn màu xanh; 02 (hai) bịch nylon màu xanh có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa các hạt chất rắn không đồng nhất và trong túi quần (bên phải phía trước) của bị cáo đang mặc 01 (một) bịch nylon màu xanh có rãnh bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng không đồng nhất.

Qua quá trình điều tra xác định, Lê M N bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm năm 2022 nhưng không sư dụng thường xuyên. Vào ngày 15/6/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo dùng điện thoại gọi cho Nguyễn Minh Tr để hỏi mua ma túy dang khay với giá 6.250.000 đồng. Sau khi mua ma túy, Nhật lấy 05 viên thuốc lắc cùng với 01 bịch ma túy dạng khay để trong túi quần (bên trái phía trước) và lấy 01 bịch ma túy dạng khay để vào túi quần (bên phải phía trước) bị cáo đang mặc. Do xe không chạy được nên bị cáo gọi điện cho Trần Anh T đến chở bị cáo ra khu vực phường V, thành phố R thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá phối hợp Công an phường Vĩnh Bảo bắt quả tang cùng tang vật.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong có chứa 05 viên nén hình tròn màu xanh và 02 (hai) bịch nylon màu xanh có rãnh gài bên trong có chứa các hạt chất rắn màu trắng; 01 (một) bịch nylon màu xanh bên trong có chứa các chất rắn màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.

* Tại bản kết luận giám định số: 546/KL-KTHS, ngày 22 tháng 6 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:

- 05 viên nén hình tròn màu xanh chứa trong 01 (một) bịch nylon niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,9219 gam.

- Chất rắn màu trắng chứa trong 02 (bịch) bịch nylon màu xanh có rãnh gài được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 3,5980 gam.

- Chất rắn màu trắng chứa trong 02 (bịch) bịch nylon màu xanh có rãnh gài được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,0709 gam

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27, nghị định 73/2018/NĐ – CP, ngày 15/5/2020. Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, nghị định 73/2018/NĐ – CP, ngày 15/5/2018.

* Tại bản cáo trạng số 209/CT-VKSRG ngày 06/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Lê M N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên tòa, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có ký hiệu số 546/2022 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam người chứng kiến niêm phong Lê Văn B và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu đen.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Tại phiên toà bị cáo Lê M N khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào ngày 15/6/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo Lê M N điện thoại gọi cho Nguyễn Minh Tr để hỏi mua ma túy dang khay với giá 6.250.000 đồng. Sau khi mua ma túy, Nhật lấy 05 viên thuốc lắc cùng với 01 bịch ma túy dạng khay để trong túi quần (bên trái phía trước) và lấy 01 bịch ma túy dạng khay để vào túi quần (bên phải phía trước) bị cáo đang mặc. Do xe không chạy được nên bị cáo gọi điện cho Trần Anh T đến chở bị cáo ra khu vực phường V, thành phố R thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá phối hợp Công an phường Vĩnh Bảo bắt quả tang cùng tang vật. Qua giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,9219 gam và chất ma túy loại Ketamine có tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 4,6689 gam. Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lê M N cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực hành vi dân sự, ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm mà không suy nghĩ đến hậu quả, mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Cho nên, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền tác hại ma túy, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để tuyên xử mức án phù hợp. Xét bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ để Hội đồng xét xử xem xét khi tuyên mức hình phạt cho bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm thuê lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có ký hiệu số 546/2022 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N người chứng kiến niêm phong Lê Văn B và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.

Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Minh Tr hiện đang bị khởi tố điều tra trong vụ án khác. Đối với Trần Anh T không biết việc tàng trữ ma túy của bị cáo nên hành vi T không cấu thành tội phạm.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm d mục 1.2 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê M N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê M N, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/6/2022 đến ngày 23/6/2022.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có ký hiệu số 546/2022 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N người chứng kiến niêm phong Lê Văn B và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.

(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 198/QĐ-VKS ngày 16/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/11/2022). * Nơi nhận:

Cỡ chữ