- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn Mến - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 306/2021/HS-ST Ngày: 27/05/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Nguyễn Trần Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Hòa – CB hưu trí.
Bà Thiều Thị Phi Loan – CB hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa
án nhân dân Thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP.B, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hoàng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 259/2021/HSST ngày 28/4/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2021/QĐXXST-HS ngày 07/5/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Văn M; Giới tính: Nam; Sinh năm 1999 tại Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Họ tên cha: Đinh Văn H - Sinh năm 1969 (còn sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Đ - Sinh năm 1964 (còn sống); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ ngày 10/01/2021, chuyển tạm giam theo lệnh số 199 ngày 18/01/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
(Bị cáo có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Văn M là người sử dụng trái phép chất ma túy. Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 09/01/2021, M đi đến khu vực đường bộ thuộc tổ 12, khu phố T, phường T, thành phố B mua 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) của người thanh niên (Chưa rõ lai lịch) với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) để sử dụng.
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/01/2021, M đang cất giấu gói ma túy nêu trên trong ví màu đen để trên nền phòng trọ số 14A (Do M thuê ở) tại nhà trọ số 133/4 thuộc tổ 12, khu phố T, phường T, thành phố B thì bị Công an phường T, thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
*Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng được niêm phong theo quy định, có chữ ký của Đinh Văn M.
* Tại Kết luận giám định số 78/KLGĐ-PC09 ngày 14/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận như sau:
“Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,13979gam, loại Methamphetamine”.
Tại bản cáo trạng số 290/CT-VKSBH ngày 26/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B đã truy tố bị cáo Đinh Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Đinh Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 12 tháng tù giam đến 18 tháng tù giam.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 án phí Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Biên H tuyên tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định.
Đối với người thanh niên (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Đinh Văn M, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên H tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Đinh Văn M có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do bị cáo đang bệnh nặng, sức khỏe không đảm bảo để tham gia phiên tòa (Theo Công văn số 223/CV-NTG ngày 18/5/2021 của Nhà tạm giữ Công an thành phố B; Biên bản làm việc ngày 24/5/2021 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai). Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị cáo Đinh Văn M đã khai nhận: Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 10/01/2021, tại khu vực tổ 12, khu phố T, phường T, thành phố B, Đinh Văn M có hành vi tàng trữ trái phép 0,13979 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an phường T, thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng số 290/CT-VKSBH ngày 26/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; đặc biệt hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày một nhiều trong tầng lớp thanh niên trẻ ngày nay, cho thấy ý thức chấp hành pháp luật, ý thức tu dưỡng bản thân của tầng lớp trẻ ngày càng kém. Từ đó, sẽ là tiền đề cho nhiều loại tội phạm có khả năng gia tăng.
Đối với bản thân bị cáo M đã là một người trưởng thành, tuổi đời còn trẻ; bị cáo vào thời điểm phạm tội cũng nhận thức được rõ hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của mình, bị cáo vẫn bất chấp vi phạm quy định. Do đó, tại phiên tòa ngày hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về các tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Hơn nữa, hiện nay bị cáo đang bệnh nặng: Chẩn đoán Toan chuyển hóa nặng nghi do thiếu Vitamin B1, theo hội chứng suy đa Gan, Thận, nhiễm trùng tiêu hóa, để tạo điều kiện cho bị cáo chữa bệnh và sớm hồi phục sức khỏe; HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 án phí Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Đinh Văn M phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn M phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xöû phaït: Bị cáo Đinh Văn M 01 (một) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2021.
- Biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 78/KLGĐ
- PC09 ngày 10/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai - là số lượng ma túy còn lại sau giám định.
(Vật chứng này được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố B).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Buộc bị cáo Đinh Văn M phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đinh Văn M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Viện kiểm sát nhân dân TP.B (2);
- Công an TP.B (2);
- Thi hành án hình sự (7);
- Bị cáo (4);
- Lưu hồ sơ vụ án (3).
Nguyễn Trần Nhàn
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Thiều Thị Phi Loan Nguyễn Thái Hòa
Nguyễn Trần Nhàn TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 15 giờ 00 ngày 27 tháng 5 năm 2021;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Thái Hòa và bà Thiều Thị Phi Loan.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 259/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Văn Mến; Giới tính: Nam; Sinh năm 1999 tại Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp Thạnh Thắng, xã Thạnh Lộc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Họ tên cha: Đinh Văn Hiệp - Sinh năm 1969 (còn sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Được - Sinh năm 1964 (còn sống); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ ngày 11/01/2021, chuyển tạm giam theo lệnh số 199 ngày 18/01/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thành phố Biên Hòa.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Mến phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
3. Về mức hình phạt: Xöû phaït bị cáo Đinh Văn Mến: 01 (một) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2021.
4. Về các vấn đề khác:
- Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 78/KLGĐ - PC09 ngày 10/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai - là số lượng ma túy còn lại sau giám định.
(Vật chứng này được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đinh Văn Mến được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Nghị án kết thúc vào hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Thiều Thị Phi Loan Trần Văn Chánh
Đồng Thị Hồng TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Số:11/2018/HSST-QĐ
Biên Hòa, ngày 12 tháng 3 năm 2018
QUYẾT ĐỊNH
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(4)
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Chánh và bà Nguyễn Thị Nhạn
Căn cứ Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ kết quả việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
Xét thấy:
- Tại phiên tòa, người bị hại Bùi Quốc Tuấn và người làm chứng Phạm quốc Cường đều khai khi quay lại hiện trường để gây án bị cáo không đi một mình mà đi cùng hai người khác trên 1 chiếc xe máy. Lời khai này mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra. Mặt khác anh Tuấn và anh Cường cũng như bị cáo đều xác định quá trình điều tra chưa được đối chất với nhau.
- Chiếc xe bị cáo sử dụng làm phương tiên gây án bị cáo khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là đã bán. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa làm rõ thời điềm bán, khu vực bán và người mua cũng như khả năng thu hồi tài sản này cũng như biện pháp xử lý vật chứng. Lý do tại sao có sự chênh lệch lớn giữa giá bán và giá mua. Có hay không việc bị cáo cố ý tẩu tán tài sản. Do đó, cần trả hồ sơ để làm rõ.
QUYẾT ĐỊNH:
Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;
Bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.
Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.
Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:
1. Điều tra xác minh, cho đối chất giữa bị hại, những người làm chứng và bị cáo nhằm làm rõ trong vụ án có đồng phạm hay không?
2. Xác minh làm rõ cũng như có biện pháp xử lý cụ thể đối với chiếc xe mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
| Nơi nhận: - VKS TP.Biên Hòa (kèm hồ sơ vụ án); - Hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |