- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "bà N kiện bà Th tranh chấp đất"
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 Luật Đất đai; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 306/2020/DS-PT Ngày: 15/12/2020 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Văn Minh
Ông Đào Minh Đa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đ i di n i n i m t nh n d n t nh nh ư ng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung – i m sát viên.
Trong ngày 15/12/2020, tại trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, t ử phúc thẩm công khai vụ án dân s thụ lý số 357/2020/TLPT-DS ngày 13/11/2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án sơ thẩm số 49/2020/DS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân thị ã B, tỉnh Bình Dương ị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử phúc thẩm số 320/2020/QĐPT-DS ngày 24/11/2020, giữa các đương s :
- Nguyên đơn: Bà Cao Thị N, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ 15, khu phố 1, phường M, thị ã B, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho ông BT, sinh năm 1965; địa chỉ thường trú: A149/6a, tổ 6, khu 1, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số 636 đường Nguyễn Tri Phương, tổ 80, khu phố 9, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/11/2020). Bà N, ông Tình có mặt.
- Bị đơn: Bà Phan Như Th, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ 13, khu phố 1, phường M, thị ã B, tỉnh Bình Dương. Có đơn in vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ 15, khu phố 1, phường M, thị ã B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
2. Bà Võ Thị im P, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 266, Quốc lộ 13, khu phố 1, phường M, thị ã B, tỉnh Bình Dương. Có đơn in vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Quốc Tr, sinh năm 1983; địa chỉ: Số 287A, khu phố 1, phường M, thị ã B, tỉnh Bình Dương. Có đơn in vắng mặt.
4. Bà Phan Ngọc V, sinh năm 1958; địa chỉ: Khu phố 1, phường M, thị ã B, tỉnh Bình Dương. Có đơn in vắng mặt.
- Người háng cáo: Nguyên đơn à Cao Thị N.
NỘI D NG V ÁN
- Theo đ n h i iện đ ng y
v quá trình tham gia t t ng, nguyên đ n b Cao Thị N trình bày:
Bà N có phần đất diện tích 238m2, thuộc thửa đất số 41, tờ ản đồ số 16, đất tọa lạc tại phường M, thị ã B, tỉnh Bình Dương. Phần đất này đã được Ủy an nhân dân huyện (nay là thị ã) B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998, cấp đổi năm 2007 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01647 ngày 10/12/2007. Đất có nguồn gốc do cha mẹ bà N tặng cho từ năm 1977. Đất của à N có chiều ngang tiếp giáp với đường Quốc lộ 13 là 9m, mặt sau là 10m.
Cạnh hướng nam đất à N tiếp giáp với đất của ông Nguyễn Văn Hòa (thửa đất số 40), trước đây à N và ông Hòa có tranh chấp lối đi chung và được Thanh tra huyện B giải quyết vào năm 1993 chia đôi lối đi chung. Theo đó, à N và ông Hòa được chia mỗi người là 0,5m đất mặt tiền đường Quốc lộ 13 và 0,7m mặt hậu. Vì vậy đất của à N tăng diện tích so với trước đây theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00213 ngày 23/5/1998.
Cạnh hướng ắc đất của à N tiếp giáp với đất của à Phan Như Th thuộc thửa đất số 435, tờ ản đồ số 16. Đất của bà Th có nguồn gốc do nhận chuy n nhượng của bà P không qua đo đạc th c tế vì thế đất của bà Th giảm 0,5m mặt tiền và 0,7m mặt hậu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của à Th cấp ngày 02/10/2017.
Nay bà Th ây d ng nhà trên phần đất nhận chuy n nhượng của à P nhưng không ây trên diện tích th c tế mà d a vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nên lấn sang đất của bà N 0,5m mặt tiền và 0,7m mặt hậu. Tổng diện tích bà Th lấn chiếm đất của à N là 14m2.
Khi bà Th làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có s chứng kiến của bà N đ ký liên ranh, vì vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho à Th đã ị chồng lấn đất của bà N.
Qua đo đạc th c tế ngày 02/6/2020 thì phần đất tranh chấp có diện tích là 8,6m2. Nay bà N yêu cầu Tòa án giải quyết uộc à Phan Như Th phải tháo dỡ công trình ây d ng trên phần đất tranh chấp và trả lại cho à N phần diện tích đất đã lấn chiếm 8,6m2.
- Bản tự hai ng y 3
v quá trình tham gia t t ng bị đ n Phan Như Th trình bày:
Phần đất có diện tích 166,8m2 thuộc thửa đất số 435, tờ ản đồ số 16, đất tọa lạc tại phường M, thị ã B, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc do bà Th nhận chuy n nhượng từ à Võ Thị im P và à Phan Ngọc V (thửa đất số 435 được hợp từ thửa đất số 376 và 406), phần đất này đã được S Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 829201 ngày 02/10/2017 cho bà Th. Khi nhận chuy n nhượng thì trên đất đã có sẵn móng kiên cố ác định ranh giới rõ ràng.
hi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho à Th thì có đo đạc th c tế, các chủ đất liên ranh, trong đó có ông Nguyễn Văn T (chồng à N) ác nhận và ký liên ranh nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho à Th là hoàn toàn đúng quy định.
Vào khoảng năm 2019 à Th ắt đầu ây d ng nhà (có giấy ph p ây d ng) thì ị à N cản tr , không cho à Th ây d ng nên đã tạm ngưng ây d ng từ tháng 9 năm 2019 cho đến nay. Việc à N ngăn cản gia đình à Th sử dụng đất đã làm ảnh hư ng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của gia đình à Th. Bà Th thống nhất kết quả đo đạc và định giá ngày 02/6/2020.
Trước yêu cầu kh i kiện của à N, bà Th có ý kiến như sau: không đồng ý với toàn ộ yêu cầu kh i kiện của à N.
Người có quy n lợi, nghĩa v liên quan trình bày:
- Ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông T là chồng của à N. Ông T và bà N xây d ng nhà và sử dụng ổn định từ năm 1981 cho đến nay. Nay ông T cho rằng đất của bà Th không đúng với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì cán ộ địa chính uống đo đạc không mời khu phố và các chủ hộ chứng kiến ký liên ranh. Khi bà P chuy n nhượng cho à Th thì ông T có ký giấy cho à P, việc ký tên là đ cho bà P nhận tiền chứ không ác nhận đúng hay sai. Sau khi à Th ây d ng nhà thì ông T mới iết việc à Th lấn đất. Đề nghị Tòa án ác minh làm rõ đ ảo vệ quyền lợi cho à N và ông T. Ông T thống nhất với ý kiến trình ày và yêu cầu kh i kiện của à N.
- Ông Nguyễn Quốc Tr trình bày: Ông Tr là chồng của bà Th, ông Tr thống nhất với toàn ộ ý kiến trình ày của à Th.
- Bà Võ Thị im P trình ày: Trước đây à P được mẹ ( à V) tặng cho 01 thửa đất số 406, tờ ản đồ 16 với diện tích 85m2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 06105 ngày 22/02/2013 do Ủy an nhân dân huyện B cấp cho à Phan Ngọc V, phần đất này liền ranh với phần đất của à Cao Thị N và liền kề với phần đất mà à V tặng cho à P có nguồn gốc do nhận chuy n nhượng từ à Trần Thị Nhung (thửa đất số số 376, tờ ản đồ số 16 với diện tích là 84m2). Trong quá trình chưa có nhu cầu sử dụng đất nên à P đã ây d ng móng kiên cố trên 02 phần đất nêu trên với chi phí là 200.000.000 đồng nhằm mục đích ranh đất được rõ ràng và sau này có nhu cầu thì sẽ ây nhà trên 02 thửa đất nêu trên. Đến năm 2017 thì à P đã chuy n nhượng toàn ộ 02 phần đất nêu trên cho bà Th, khi làm thủ tục sang tên cho à Th thì gia đình à N cũng đã ký giáp ranh cho bà P. Trước yêu cầu kh i kiện của à N, bà P có ý kiến như sau: Phần đất mà à P chuy n nhượng cho à Th đã có ranh, móng rõ ràng, đúng theo diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình ây d ng móng cũng như ký liên ranh thì gia đình à N đã chứng kiến và không ý kiến gì. Do đó, bà P không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của à N.
- Bà Phan Ngọc V trình ày: Thống nhất với lời trình ày của à Th và bà P.
Tại Bản án sơ thẩm số 49/2020/DS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân thị ã B, tỉnh Bình Dương tuyên ử:
1. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Cao Thị N đối với bị đơn bà Phan Như Th về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
2. Kiến nghị Ủy ban nhân dân thị xã B thu hồi, điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AL 356791, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 01647 ngày 10/12/2007 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) B cấp cho bà Cao Thị N cho phù hợp với diện tích đất thực tế sử dụng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi t ử sơ thẩm, ngày 14/9/2020 bà Cao Thị N là nguyên đơn có đơn kháng cáo; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa ản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đề nghị hủy ản án sơ thẩm.
Ý kiến của i m sát viên đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã th c hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s . Về nội dung: Thửa đất của nguyên đơn và ị đơn đã có ức tường là ranh giới do nguyên đơn ây. Bản mô tả ranh giới đất cũng được ông T là chồng của nguyên đơn ký ác nhận. Nguyên đơn yêu cầu ị đơn trả lại 8,6m2 đất là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng t ử ác kháng cáo của nguyên đơn, giữa nguyên ản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của i m sát viên;
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN
[1] Theo đơn kh i kiện, à Cao Thị N (sau đây viết là nguyên đơn) kh i kiện à Phan Như Th, yêu cầu à Th trả lại diện tích đất lấn chiếm khoảng 14m2, qua đo đạc th c tế có diện tích 8,6m2. Nguyên đơn cho rằng: Bà Th ây cất nhà lấn sang phần đất của nguyên đơn đã được UBND huyện B (nay là thị ã B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/12/2007.
[2] Bà Phan Như Th (sau đây viết là ị đơn) cho rằng: Bị đơn không lấn chiếm đất của nguyên đơn. Đất của ị đơn có nguồn gốc là ị đơn nhận chuy n nhượng của bà Phan Ngọc V và à Võ Thị im P cùng chồng là ông Huỳnh Đinh Ngọc Hùng. Bà Th đã được S Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/10/2017 thuộc thửa đất số 435, tờ ản đồ số 16 diện tích 166,8m2. hi nhận chuy n nhượng đã có ranh giới đất rõ ràng được ác định i móng ê tông do à P ây. hi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ông T (chồng của nguyên đơn) ký liên ranh. Bị đơn không đồng ý yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
[3] Qua em t tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, hồ sơ quản lý đất đai về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thấy rằng: Thửa đất số 41, tờ ản đồ số 16 có diện tích 238m2 tọa lạc tại thị trấn M (nay là phường M) nguyên đơn đã được UBND huyện B (nay là thị xã B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/12/2007. Tại Biên ản làm việc ngày 27/11/2020, nguyên đơn cùng chồng là ông Nguyễn Văn T ác định: Vào khoảng năm 2016, nhà nước m rộng đường Quốc lộ 13 và có đền ù tiền cho vợ chồng à N, ông T. Diện tích đất còn lại là 152m2 (chưa ao gồm diện tích đất có tranh chấp 8,6m2). Đất của ị đơn thuộc thửa đất số 435 (được hợp thành từ thửa 376 và thửa 406), tờ ản đồ số 16 có diện tích 166,8m2, ị đơn được S Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/10/2017. Nguồn gốc đất là ị đơn nhận chuy n nhượng của à Võ Thị im P (thửa đất số 376, tờ ản đồ số 16, diện tích 84m2 được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2009) và à Phan Ngọc V (thửa đất số 406, tờ ản đồ số 16, diện tích 84,8m2 được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/02/2013) theo hợp đồng chuy n nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 12/6/2017 có công chứng của Văn phòng Công chứng M.
[4] Qua em t thẩm định tại chỗ và đo đạc theo sơ đồ ngày 17/6/2020 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị ã B th c hiện thì giữa thửa đất số 41 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn và thửa đất số 435 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ị đơn hiện trạng là một ức tường ây gạch, lưới B40 móng gạch. Đoạn ên trong là ức tường ây gạch do ị đơn ây vào năm 2019 áp sát với ức tường ây gạch do nguyên đơn ây đã có từ trước. Đoạn phía ngoài là hàng rào lưới B40 móng gạch dài 7,8m tiếp giáp Đại lộ Bình Dương do nguyên đơn ây vào năm 2008. Dưới chân ức tường còn móng ê tông cũ do à P ây từ trước khi chuy n nhượng đất cho ị đơn. Nguyên đơn thừa nhận ức tường gạch lưới B40 là do nguyên đơn và ông T ây vào năm 2008. Nguyên đơn cho rằng đất của nguyên đơn còn nằm phía ên kia của ức tường có diện tích 8,6m2 và yêu cầu ị đơn trả lại phần diện tích đất này là không có cơ s , i lẽ: Chính nguyên đơn ây d ng ức tường gạch lưới B40 từ năm 2008 đã ác định ranh giới giữa ất động sản của nguyên đơn và à P (sau này bà P chuy n nhượng đất lại cho ị đơn) vẫn còn hiện hữu ức tường này và khi à V, bà P chuy n nhượng đất cho ị đơn, cũng được ông T (chồng của nguyên đơn) ký ác nhận vào ản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ( út lục 117, 128). Do vậy, có cơ s ác định ức tường gạch lưới B40 có tổng chiều dài 16,71m là ranh giới đ làm mốc giới ngăn cách giữa thửa đất số 41 của nguyên đơn và thửa đất số 435 của ị đơn phù hợp với các Điều: 175, 176 Bộ luật Dân s . Mặt khác, theo Công văn số 1089/TNMT-TTĐĐ ngày 17/8/2020 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị ã B (thừa ủy quyền của UBND thị ã B), Công văn số 1013/CNBC- TĐĐ-BĐ ngày 19/8/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị ã B ác định: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn (phương pháp thành lập ằng ảnh hàng không) không đo đạc th c tế. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ị đơn ằng máy toàn đạc điện tử, phương pháp đo đạc tr c tiếp chỉnh lý trên ản đồ địa chính và theo sơ đồ ngày 17/6/2020 thì thửa đất số 435 diện tích 166,8 cấp cho ị đơn ao gồm diện tích có tranh chấp 8,6m2 ( ị đơn sử dụng đủ diện tích 166,8m2). Tòa án cấp sơ thẩm ử không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn là có căn cứ nhưng lại kiến nghị UBND thị ã B thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là không đúng pháp luật. Cần sửa ản án sơ thẩm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là có cơ s chấp nhận một phần. Ý kiến của i m sát viên là phù hợp. Về án phí: X t miễn án phí cho nguyên đơn là người cao tuổi và có đơn in miễn án phí; ị đơn không phải chịu. Chi phí em t, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản cấp sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định. Chi phí thẩm định tại chỗ, trích sơ đồ cấp phúc thẩm: Nguyên đơn, ị đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
Q YẾT Đ NH:
- Căn cứ các Điều: 163, 164, 175, 176 Bộ luật Dân s ;
- Căn cứ khoản 1, Điều 3; khoản 10, Điều 12, các Điều: 166, 170, 203 Luật Đất đai;
Căn cứ các Điều: 147; 148; 157; 165; khoản 2, Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân s ;
- Căn cứ các Điều: 12, 14, 15, 26, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của à Cao Thị N. Sửa Bản án số 49/2020/DS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân thị ã B, tỉnh Bình Dương như sau: hông chấp nhận yêu cầu kh i kiện của à Cao Thị N đối với à Phan Như Th về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 8,6m2 tọa lạc tại phường M, thị ã B, tỉnh Bình Dương (có sơ đồ kèm theo).
2. Về án phí, chi phí thẩm định, đo đạc, định giá tài sản:
- Án phí sơ thẩm, phúc thẩm: Miễn án phí sơ thẩm, phúc thẩm cho à Cao Thị N .
- Chi phí em t, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản tại cấp sơ thẩm: Bà Cao Thị N phải chịu 2.178.000 đồng được trừ vào số tiền đã nộp.
- Chi phí em t, thẩm định tại chỗ và trích sơ đồ tại cấp phúc thẩm: Bà Cao Thị N phải chịu 750.000 đồng, à Phan Như Th phải chịu 750.000 đồng khấu trừ vào số tiền đã nộp.
Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .
Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật k từ ngày tuyên án./.
N i nhận:
| - Các đương s ; - V SND tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thị ã B; - Chi cục THADS thị ã B; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |