vanban.org

Bản án 305/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Quang L.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 2822 ngày 07/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; chị Nguyễn Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo tro… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "D-L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Quang L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 305/2026/HNGĐ-ST
Ngày 27/7/2026
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quốc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Quân;

Ông Đoàn Trung Tuyến .

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 115/2026/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2026 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2026, quyết định hoãn phiên tòa số 60/QĐST ngày 09/7/2026 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1983;CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn T (thôn H) cũ, xã X, tỉnh Ninh Bình;

* Bị đơn: Anh Phạm Quang L, sinh năm 1978; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn T (thôn H) cũ, xã X, tỉnh Ninh Bình.

(Chị D vắng mặt đã có đơn xin giải quyết vắng mặt; anh L vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Quang L tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đã được UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định (cũ) nay là xã X, tỉnh Ninh Bình cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/01/2001. Cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi chửi nhau do tính cách, lối sống không hòa hợp; vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay. Gia đình đã động viên, khuyên giải để vợ chồng hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, không thể hàn gắn nên nguyện vọng của chị xin được ly hôn với anh Phạm Quang L.

Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung là Phạm Thị Thu H, sinh ngày 27/3/2022 và Phạm Quang K, sinh ngày 24/7/2006. Hiện các con của anh chị đã trên 18 tuổi.

Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Phạm Quang L, anh L đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt ở địa phương. Tòa án đã làm thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng nhưng anh L cũng không đến Tòa án để làm việc, không gửi ý kiến bằng văn bản của mình cho Tòa án về việc chị D xin ly hôn anh.

Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã X như sau: Chị D và anh L đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện X (cũ) đăng ký kết hôn ngày 16/01/2001 là đúng. Nay chị D xin ly hôn anh L, đề nghị Toà án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chị D, anh L có 02 con chung là Phạm Thị Thu H, sinh ngày 27/3/2022 và Phạm Quang K, sinh ngày 24/7/2006. Hiện các con của anh chị đã trên 18 tuổi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

Về nội dung, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ đề nghị Hội đồng xét xử: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Quang L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Quang L có quan hệ hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 16/01/2001 tại Ủy ban nhân dân xã X, tỉnh Nam Định (cũ). Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính cách, lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm nên không tìm được tiếng nói chung. Gia đình cũng đã tác động để vợ chồng tìm giải pháp giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Chị D xin ly hôn anh L, anh L không thường xuyên có mặt ở địa phương, không nhận các văn bản tố tụng. Tòa án đã làm thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng nhưng anh L không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến của mình cho Tòa án về việc chị D xin ly hôn anh. Điều đó chứng tỏ anh L không thiết tha mặn mà với cuộc sống chung vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh L đã kéo dài, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D đối với anh Phạm Quang L là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Quang L có 02 con chung là Phạm Thị Thu H, sinh ngày 27/3/2022 và Phạm Quang K, sinh ngày 24/7/2006. Hiện các con của anh chị đã trên 18 tuổi. Lên vấn đề giải quyết về con chung không đặt ra.

Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Phạm Quang L.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 2822 ngày 07/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; chị Nguyễn Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ