- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 305/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2025. V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Vân Trường.
2. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 232/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 117/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn L - sinh năm 1989, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp Thạnh Vinh, xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Nay là ấp Thạnh Vinh, xã Thạnh Hưng, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Bà Lê Kim T - sinh năm 1995, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp Thới Trung, xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Nay là ấp Thới Trung, xã Định Hòa, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/6/2025, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn ông Đỗ Văn L như sau:
Ông và bà Lê Kim T cưới nhau vào năm 2013, hôn nhân tự nguyện, ông bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 06/5/2015.
Vợ chồng sống chung hạnh phúc được hơn 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do sau khi vợ ông sinh con được 06 tháng thì vợ ông có bồ rồi bỏ nhà đi theo người đàn ông khác, đến khi thôi nôi con thì vợ ông quay về và vợ chồng sống chung khoảng 20 ngày nhưng không hạnh phúc nên cuối cùng chia tay, vợ chồng tôi đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và ông không còn tình cảm với bà Lê Kim T nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Kim T.
Thời gian chung sống vợ chồng ông bà có 01 người con chung tên Đỗ Quốc T1 – sinh ngày 07/7/2014, do ông đang nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng ông không có tài sản chung.
Về nợ chung: Ông cam đoan vợ chồng ông không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyện vọng:
Về hôn nhân: Ông xin được ly hôn với bà Lê Kim T.
Về con chung: Ông xin nuôi con chung tên Đỗ Quốc T1 – sinh ngày 07/7/2014 và không yêu cầu bà Lê Kim T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Lê Kim T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng bà Lê Kim T không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của bà Lê Kim T.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụg dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho ông Đỗ Văn L được ly hôn với bà Lê Kim T. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Quốc T1 – sinh ngày 07/7/2014 cho ông Đỗ Văn L tiếp tục nuôi dưỡng, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Đỗ Văn L và bà Lê Kim T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.
Bà Lê Kim T là bị đơn trong vụ án, bà Lê Kim T có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay bà Lê Kim T vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà Lê Kim T vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Lê Kim T.
Ông Đỗ Văn L có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của ông Đỗ Văn L không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Đỗ Văn L.
Về hôn nhân: Ông Đỗ Văn L và bà Lê Kim T cưới nhau vào năm 2013, có tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31/2015, ngày 06/5/2015, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của ông Đỗ Văn L và bà Lê Kim T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của ông Đỗ Văn L và bà Lê Kim T là hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà sống hạnh phúc khoảng 02 năm và có 01 người con chung nhưng vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Ông Đỗ Văn L cho rằng sau khi vợ ông sinh con được 06 tháng thì vợ ông có bồ rồi bỏ nhà đi theo người đàn ông khác, đến khi thôi nôi con thì vợ ông quay về và vợ chồng sống chung khoảng 20 ngày nhưng không hạnh phúc nên cuối cùng chia tay, vợ chồng tôi đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Ngày 01/8/2025 và ngày 20/8/2025, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng bà Lê Kim T vắng mặt và ông Đỗ Văn L cương quyết ly hôn với bà Lê Kim T. Xét thấy, vợ chồng ông bà đã ly thân đến nay gần 10 năm, trong thời gian ly thân ông và bà Lê Kim T không còn liên lạc với nhau, khi Tòa án mời bà Lê Kim T đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì bà Lê Kim T không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Ông Đỗ Văn L cương quyết xin ly hôn với bà Lê Kim T và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương bà Lê Kim T, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Đỗ Văn L.
Về con chung: Ông Đỗ Văn L và bà Lê Kim T có 01 người con chung tên Đỗ Quốc T1 – sinh ngày 07/7/2014 do ông Đỗ Văn L nuôi dưỡng.
Bà Lê Kim T không có ý kiến về quyền nuôi con. Ông Đỗ Văn L yêu cầu được nuôi con chung và cháu T1 có nguyện vọng sống chung với cha nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Văn L.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đỗ Văn L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đỗ Văn L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Ông Đỗ Văn L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0015006, ngày 13/6/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn L.
Về hôn nhân: Xử cho ông Đỗ Văn L ly hôn với bà Lê Kim T.
Về con chung: Giao cháu Đỗ Quốc T1 – sinh ngày 07/7/2014 cho ông Đỗ Văn L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Bà Lê Kim T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở bà thực hiện quyền này.
Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Đỗ Văn L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0015006, ngày 13/6/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKSND cùng cấp; -THADS; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |