- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Sách và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 305/2023/HS-ST Ngày: 30 – 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Công
2. Bà Trần Ngọc Phƣơng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 312/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 298/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Võ Văn S, sinh năm 2000, tại tỉnh An Giang. Nơi cƣ trú: Ấp S, thị trấn C, huyện Tr, tỉnh A; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T và bà Trƣơng Thị T; bị cáo chƣa có vợ con; bị cáo có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 02 năm 2023 đến nay. Bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt theo đơn ngày 29 tháng 9 năm 2023.
2. Trần Thành Đ, sinh năm 2004 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cƣ trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh A; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh Đ, sinh năm 1981 và bà Bùi Kim Q, sinh năm 1984; bị cáo có 02 anh em, lớn nhất là bị cáo. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 02 năm 2022 đến nay. Bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt theo đơn ngày 29 tháng 9 năm 2023.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đinh Hoàng N, sinh năm 1985; trú tại: Khóm H, thị trấn C, huyện T, tỉnh A, vắng mặt.
+ Ông Huỳnh Minh P, sinh năm 2004; trú tại: Ấp S, thị trấn C, huyện T, tỉnh A, vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Phan Thế Sơn, sinh năm 1986, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 22h00 ngày 21/02/2023, tổ tuần tra thuộc Phòng Cảnh sát Cơ động Công an tỉnh Bình Dƣơng tuần tra trên đoạn đƣờng Thuận Giao 21 đoạn qua trƣớc Công ty TNHH Phƣớc Hải thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện Trần Thành Đ điều khiển xe mô tô kiểu dáng Yamaha Exciter 150 biển số 67N1-473.52 chở Võ Văn S ngồi sau đang đi trên đƣờng có biểu hiện nghi vấn nên lực lƣợng tuần tra yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Lúc này, S có ném 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng đang cầm trên tay phải xuống đƣờng ngay vị trí S đứng thì bị tổ tuần tra phát hiện thu giữ. Qua làm việc S khai nhận chất tinh thể màu trắng trong gói nylon mà S ném xuống đất là ma túy đá vừa mua đƣợc của 01 thanh niên không xác định đƣợc nhân thân lai lịch tại khu vực ngã tƣ giao nhau giữa đƣờng D6 với đƣờng N3 trong khu dân cƣ Thuận Giao, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng với giá 300.000 đồng. S và Đ khai nhận số tiền 300.000 đồng dùng mua ma túy là tiền của S và Đ góp lại mua (S góp 200.000 đồng và Đ góp 100.000 đồng). Tổ tuần tra của Công an tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật trên và đƣa S cùng Đ về trụ sở Công an phƣờng Thuận Giao để làm việc và chuyển giao Cơ quan điều tra công an thành phố Thuận An xử lý theo thẩm quyền.
Kết quả kiểm tra tại Trung tâm Y tế thành phố Thuận An xác định Trần Thành Đ, Võ Văn S có sử dụng ma túy loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn là ma túy); 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Yamaha Exciter 150 mang biển số 67N1-47352.
Ngày 22/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An ra Quyết định trƣng cầu giám định số 89 trƣng cầu giám định chất nghi vấn ma túy nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 101/KL-KTHS(MT) ngày 28/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lƣợng/trọng lƣợng: 0,1986 gam.
Tại Cáo trạng số 310/CT-VKS-TA ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Võ Văn S và Trần Thành Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn S và Trần Thành Đ từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng ký hiệu số 101/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Yamaha Exciter 150 mang biển số 67N1-473.52 tạm giữ của Trần Thành Đ là của Huỳnh Minh Phƣơng, sinh năm 2004, trú tại: ấp Sóc Triết, TT. Cô Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang do Đ mƣợn đi công việc thì bị bắt giữ nhƣ nêu trên. Ông Huỳnh Minh Phƣơng không biết Trần Thành Đ sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại xe máy trên cho ông Phƣơng.
Đối với ngƣời thanh niên bán ma túy cho Võ Văn S, Trần Thành Đ, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra xác minh xử lý theo thẩm quyền.
Trong quá trình tố tụng ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có yêu cầu dân sự gì trong vụ án.
Các bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Ngày 29 tháng 9 năm 2023 các bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp theo điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt của bị cáo.
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau; phù hợp với lời khai của ngƣời chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/02/2023, tại khu vực đƣờng Thuận Giao 21 thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Võ Văn S, Trần Thành Đ đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có trọng lƣợng: 0,1986 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt giữ cùng tang vật. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là nguy hiểm và vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Nhƣ vậy hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính S độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma tuý; gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Bản thân các bị cáo là đối tƣợng nghiện, để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo mua chất ma túy về cất giấu để sử dụng. Việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội. Loại ma túy mà các bị cáo sử dụng là một loại chất gây nghiện tổng hợp có nhiều tác hại cho sức khỏe con ngƣời. Hiện nay, tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho nhiều gia đình và xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhƣng vì nghiện ma túy, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên trƣớc khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của từng bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về vai trò: Đồng phạm mang tính giản đơn, vai trò ngang nhau.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng ký hiệu số 101/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Yamaha Exciter 150 mang biển số 67N1-473.52 là của Huỳnh Minh Phƣơng do bị cáo Đ mƣợn ông Phƣơng nhƣng ông Phƣơng không biết bị cáo Đ sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại xe máy trên cho ông Phƣơng là có căn cứ.
Đối với ngƣời thanh niên bán ma túy cho các bị cáo hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra xác minh xử lý theo thẩm quyền là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Điều 106; Điều 136 và Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Võ Văn S và bị cáo Trần Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Võ Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Thành Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đã đƣợc niêm phong dán kín ký hiệu số 101/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Về án phí: Bị cáo Võ Văn S và Trần Thành Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | T THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc |