vanban.org

Bản án 305/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc D được ly hôn với ông Lê Thanh N. Giấy chứng nhận kết hôn số 83, quyển số 01/2012, ngày 18/9/2012 của Ủy an nhân dân xã An Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà D và ông N không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Ngọc Th - Lê Thanh N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 305/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 17/3/2023.
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ H CH MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

2/ Ông Huỳnh Văn Bé.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có: Bà Nguyễn Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1370/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc D, sinh năm: 1991. (có mặt)

Thường trú: ấp Ch, xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: ấp H, xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Bị đơn: Ông Lê Thanh N, sinh năm 1986. (vắng mặt)

Thường trú: ấp Ch, xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D Trân trình ày:

Bà và ông Lê Thanh N tìm hiểu nhau một thời gian khoảng 03 năm thì tự nguyện cưới nhau, cưới nhau năm 2012, đăng ký kết hôn tại UBND xã An Phú, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống ên nhà chồng ở địa chỉ ấp Ch, xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, chung sống đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẩn, nguyên nhân do ông N gây nợ, sau đó không đi làm, sinh ra ghen tuôn, đánh đập à,… nên hai vợ chồng thường xuyên cải vả và à đã ỏ về nhà cha mẹ ruột à ở đến nay gần hai năm. Bà nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Thanh N.

Về con chung: có 01 con chung tên Lê Ngọc Nhã C, sinh ngày: 14/01/2016. Giao con chung cho ông N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng, ắt đầu thi hành ngay sau khi ản án phát sinh hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: không có.

Nợ chung: không có.

Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để ảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; Chứng minh nhân dân + Sổ hộ khẩu, khai sinh con (sao y).

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình ày, không thay đổi hay ổ sung gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát iểu ý kiến:

Về Tố tụng: Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà D được ly hôn với ông N; Con chung: ông N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung; Bà D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng, ắt đầu thi hành ngay sau khi ản án phát sinh hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tròn 18 tuổi; Tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung: không có; Về án phí bà D phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã A, huyện Củ Chi nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

Ông N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông áo thụ lý vụ án; Thông áo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông N vẫn không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn ản trình ày ý kiến hay ất cứ tài liệu, chứng cứ gì có liên quan đến vụ kiện. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc D và ông Lê Thanh N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã An Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 83, quyển số 01/2012, ngày 18/9/2012 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà D xin ly hôn với ông N là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình ày của bà D thì mâu thuẫn giữa à với ông N là trầm trọng và không thể hàn gắn. Cuộc sống vợ chồng của ông à không hạnh phúc, nguyên nhân do ông N ghen tuôn vô cớ, thường xuyên đánh đập à,…và hai vợ chồng đã không còn chung sống với nhau đến nay gần 02 năm. Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà D và ông N không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về con chung: có 01 con chung tên Lê Ngọc Nhã C, sinh ngày: 14/01/2016. Hiện trẻ đang ở với cha là ông N; Bà D không yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và trẻ C có nguyện vọng ở với ba. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao con chung cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Ông N không có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng nuôi con, bà D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng, ắt đầu thi hành ngay sau khi ản án phát sinh hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tròn 18 tuổi, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà D về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nghĩa vụ dân sự chung: Bà D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ sở nên chấp nhận.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội; Cần uộc bà D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

- Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc D được ly hôn với ông Lê Thanh N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 83, quyển số 01/2012, ngày 18/9/2012 của Ủy an nhân dân xã An Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà D và ông N không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Ông N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Ngọc Nhã C, sinh ngày: 14/01/2016. Bà D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), ắt đầu thi hành ngay sau khi ản án phát sinh hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Khi có lý do chính đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi cấp dưỡng nuôi con do các ên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu bà D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà D.

3. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Nghĩa vụ dân sự chung: không có.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) uộc bà Lê Thị Ngọc D phải nộp; Án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) uộc bà Lê Thị Ngọc D phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo iên lai số AA/2022/0019818 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Sau khi cấn trừ, bà D còn phải nộp số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn có quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được ản án hoặc ản án được niêm yết. Nơi nh n:

Cỡ chữ