- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 305/2022/HS-ST Ngày: 24 – 11– 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Tấn Tài
Ông Nguyễn Đăng Khoa
- Thư ký phiên toà; Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phốThuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 333/2022/TLST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Tr V L (tên gọi khác: Không), sinh năm 2000 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp 8, xã A X, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tr V G sinh năm 1964 và bà Ng K L, sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tháng 6 năm 2022 đến nay. Có mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Ông Ng Q H, sinh năm 2004; ông H Ch A D, sinh năm 2006; ông Ph M Đ, sinh năm 1971. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 10/6/2022, Công an phường Hưng Định, thành phố Thuận An tổ chức tuần tra hành chính cơ sở trọ; địa chỉ: Số 330A, khu phố Hưng Lộc, phường Hưng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Qua kiểm tra phòng số 04 do Tr V L thuê để ở trong phòng có L và 02 người bạn của L là Ng Q H và H Ch A Dũng. Qua kiểm tra phát hiện trên gác của phòng trọ có một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, L khai nhận bộ dụng cụ sử dụng ma túy này là của L, do L là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên còn cất giấu ma túy tại phòng trọ để sử dụng. Lúc này, L tự lấy một gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng được cất giấu trong một hộp giấy có dán băng keo đen để ở góc bên trong của gác trọ giao nộp cho lực lượng Công an. L khai nhận số tinh thể màu trắng trên là ma túy đá của L cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Vì vậy, lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa L, H, D về trụ sở làm việc.
Qúa trình điều tra xác định: Nguồn gốc gói nylon chứa ma túy bị thu giữ trong vụ án là của L được người thanh niên tên Tý (không rõ nhân thân lai lịch), là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy cho L vào ngày 09/6/2022 tại khu vực đường An Phú 13, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, L mang số ma túy này về phòng trọ cất giấu để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra thu giữ.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy;
- 01 hộp giấy dạng hình chữ nhật có dán băng keo đen bên ngoài.
Căn cứ Kết luận giám định số 267/KL-KTHS (MT) ngày 14 tháng 6 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,4698 gam, loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 317/CT-VKSTA ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Tr V L về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Tr V L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương ký hiệu 267/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 hộp giấy dạng hình chữ nhật có dán băng keo đen bên ngoài.
- Tại phiên tòa bị cáo Tr V L đã thừa nhận toàn bộ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Tr V L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 10 tháng 6 năm 2022 tại cơ sở trọ; địa chỉ: Số 330A, khu phố Hưng Lộc, phường Hưng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bị cáo Tr V L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt phạm tội quả tang và thu giữ tang vật gồm 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng. Tại Kết luận giám định số 267/KL-KTHS (MT) ngày 14 tháng 6 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,4698 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Tr V L tàng trữ trái phép 2,4698 gam loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện, để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội. Loại ma túy mà bị cáo sử dụng là Methamphetamine có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Hiện nay, tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho nhiều gia đình và xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy, bị cáo vẫn cố ý phạm tội, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy đựng trong 01 bì thư được niêm phong, ghi vụ số 267/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương là chất cấm lưu hành và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 hộp giấy dạng hình chữ nhật có dán băng keo đen bên ngoài là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với đối tượng cung cấp ma túy cho L, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ. Do đó, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Đối với Ng Q H, H Ch A D không liên quan đến số ma túy thu giữ tại phòng trọ của Luân nên Cơ quan điều tra không xem xet xử lý trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do H, D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường Hưng Định đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với H, D là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Tr V L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Tr V L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10 tháng 6 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) bì thư được niêm phong, ghi vụ số 267/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 hộp giấy dạng hình chữ nhật có dán băng keo đen bên ngoài.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: Bị cáo Tr V L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phốThuận An; - Công an, Chi cục THADS thành phốThuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo; - Lưu HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Bạch Tuyết |