- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN HỮU T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T: 17 (Mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2021.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 305/2022/HS-ST Ngày: 07-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quang Việt.
2. Ông Lê Giáo .
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số: 390/2022/HSSTngày 03/6/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 2255/2022/QĐXXST-HS ngày 08/6/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7867/2022/HSST-QĐ ngày 22/6/2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hữu T; sinh năm 1985; tại Tuyên Quang; thường trú: xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; chỗ ở: D đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc T1 và bà Đinh Thị H; có vợ (đã ly hôn) và 02 con sinh năm 2010, năm 2015; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 21/11/2007 bị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, ngày 23/4/2014 bị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc; bị bắt tạm giam 05/10/2021 “có mặt”.
2. Họ và tên: Huỳnh Đức V; sinh năm 2000; tại Vĩnh Long; thường trú: ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Đức H1, Võ Thị K; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; tạm giam: 05/10/2020 “có mặt”.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Bích H2, sinh năm 1981; cư trú: 436A/50/1N đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.
- Người bào chữa:
+ Ông Võ Tuấn A – Luật sư, Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Hữu T “có mặt”.
+ Ông Võ Đan M và bà Huỳnh Ái C – Luật sư, Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Đức V “bà C có mặt, ông M vắng mặt-có đơn xin xét xử vắng mặt”.
“NỘI DUNG VỤ ÁN”:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/10/2020, tại trước số H Q, Phường H, quận G, Công an quận G bắt quả tang Huỳnh Đức V đang điều khiển xe máy biển số 62N1-336.22 có hành vi cất giấu ma túy để bán. Vật chứng thu giữ 06 hộp giấy có ghi chữ “Crispy Fruit Mango” chứa chất bột màu cam, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 108,4677 gam loại Bromazepam.
Mở rộng điều tra, lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày, tiến hành khám xét nhà số F đường P, Phường F, Quận C của Nguyễn Thị Bích H2 phát hiện thu giữ phía dưới gầm giường 01 túi giấy, bên trong có 07 hộp giấy có ghi chữ “Crispy Fruit Mango” chứa chất bột màu cam, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 127,3161 gam loại Bromazepam.
Toàn bộ số ma túy trên đã được giám định tại Bản Kết luận giám định số 1735/KLGĐ-H và 1736/KLGĐ-H ngày 13/10/2020 của Phòng K1 - Công an Thành phố H.
Quá trình điều tra Huỳnh Đức V khai nhận: V quen biết Nguyễn Hữu T do T hay thuê V đi giao “bóng cười” từ tháng 06/2020. Vào ngày 04/10/2020, khi V đang ở phòng trọ số D, Lầu D, nhà số B đường P, Phường F, Quận C (Nguyễn Hữu T đứng tên thuê) thì T điện thoại nhờ V lấy 13 hộp giấy chứa ma túy có ghi chữ “Crispy Fruit Mango” tại phòng trọ của T mang đến phòng trọ nhà số F đường P, Phường F, Quận C do Nguyễn Thị Bích H2 (bạn gái T) thuê để cất dưới gầm giường, với mục đích khi có khách mua ma túy T sẽ gọi V đến đây lấy đem đi giao.
Đến khoảng 13 giờ ngày 05/10/2020, T điện thoại nhờ V đến phòng trọ của H2 lấy 06 hộp giấy chứa ma túy có ghi chữ “Crispy Fruit Mango” đến địa chỉ số H đường Q, Phường H, quận G giao cho một người (không rõ lai lịch) và nhận số tiền 12.100.000 đồng từ người này đem về cho T, tiền công T sẽ trả cho V là 600.000 đồng. Khi V đang điều khiển xe trên đường đi giao ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Ngoài ra V còn khai nhận: Trước đó vào ngày 03/10/2020, V đã nhận của T 10 hộp giấy chứa ma túy có ghi chữ “Crispy Fruit Mango” đi giao cho một người (không rõ lai lịch) tại khu vực đường N, quận T rồi nhận 16.000.000 đồng từ người này về cho T, được trả công 1.000.000 đồng.
Nguyễn Hữu T khai nhận: Nguồn gốc 13 hộp giấy có ghi chữ “Crispy Fruit Mango” chứa ma túy T mua trên mạng xã hội của một tài khoản tên “Huỳnh Phúc Minh T2” với giá 800.000 đồng/hộp. Sau khi nhận được ma túy T cất giấu tại nơi ở số B đường P, Phường F, Quận C nhằm bán lại với giá 1.100.000 đồng/ hộp. Đến ngày 04/10/2020, khi T và Nguyễn Thị Bích H2 đang ở Hải Phòng thì T điện thoại cho V mang 13 hộp giấy trên sang nơi ở của Nguyễn Thị Bích H2 tại số F đường P, Phường F, Quận C cất giấu để khi có khách cần mua V sẽ đến lấy đi giao. Lời khai của Nguyễn Hữu T phù hợp với lời khai trên của Huỳnh Đức V về việc T thuê V đi giao ma túy. Việc T kêu V mang ma túy cất giấu tại nơi ở của H2 thì H2 không biết và không liên quan. Nguyễn Thị Bích H2 khai nhận phù hợp với lơi khai của Nguyễn Hữu T.
Bản Cáo trạng số 258/CT-VKSTPHCM-P1, ngày 24/5/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Phần tranh tụng tại phiên tòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 3 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 17 năm tù đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2021. Phạt bổ sung bị cáo: 10.000.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Đức V từ 15 năm tù đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2020. Phạt bổ sung bị cáo: 10.000.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
+ Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo T trình bày: Thống nhất về mặt tội danh và điều khoản như đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Tuy nhiên, luật sư cho rằng B có trong gói mang tên“Crispy Fruit Mango” là loại chất ma túy mới, chứa nhiều thành phần khác nhau. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung, giám định hàm lượng chất Bromazepam trong 13 gói thu giữ liên quan đến bị cáo T để xác định đúng khối lượng ma túy làm căn cứ truy trố đối với bị cáo.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo V trình bày: Thống nhất về mặt tội danh và điều khoản như đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Trong vụ án này, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để khai báo hành vi phạm tội của bị cáo T cũng như nơi cất giấu ma túy; bị cáo thiếu hiểu biết pháp luật; phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.
- Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và phần trình bày bào chữa của các luật sư.
- Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến của mình đã trình bày trước phiên tòa, không tranh luận bổ sung.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
“NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN”:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H; Kiểm sát viên - Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án: trên cơ sở thẩm tra, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, hành vi phạm tội của bị cáo được xác định như sau:
Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/10/2020, tại trước nhà số H Q, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, theo chỉ đạo của Nguyễn Hữu T, Huỳnh Đức V mang 06 hộp ma túy để giao bán cho một người (không rõ lai lịch) và nhận số tiền 12.100.000 đồng từ người này đem về cho T, tiền công T sẽ trả cho V là 600.000 đồng. Khi V đang chuẩn bị giao ma túy thì bị cơ quan Công an quận G bắt quả tang cùng vật chứng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 108,4677 gam loại Bromazepam.
Mở rộng điều tra, lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày, cơ quan điều tra tiến hành khám xét nhà số F đường P, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Bích H2 (là người sống chung như vợ chồng với Nguyễn Hữu T) phát hiện thu giữ 07 hộp giấy có ghi chữ “Crispy Fruit Mango” chứa chất bột màu cam, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 127,3161 gam loại Bromazepam.
Toàn bộ số ma túy nêu trên do Nguyễn Hữu T mua trên mạng xã hội của một tài khoản tên “Huỳnh Phúc Minh T2” không rõ lai lịch với giá 800.000 đồng/hộp và bán lại với giá 1.100.000 đồng/ hộp để thu lợi. Vào ngày 04/10/2020, T điện thoại nhờ V lấy 13 hộp giấy chứa ma túy tại phòng trọ của T mang đến nhà số F đường P, Phường F, Quận C do Nguyễn Thị Bích H2 (bạn gái T) thuê để cất dưới gầm giường, với mục đích khi có khách mua ma túy T sẽ gọi V đến đây lấy đem đi giao. Đến khoảng 13 giờ ngày 05/10/2020, T điện thoại nhờ V đến phòng trọ của H2 lấy 06 hộp giấy chứa ma túy đến địa chỉ số H đường Q, Phường H, quận G giao cho khách thì bị bắt quả tang như đã nêu ở trên.
Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung, giám định hàm lượng chất Bromazepam trong 13 gói thu giữ liên quan đến bị cáo T để xác định đúng khối lượng ma túy làm căn cứ truy trố đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, tại biên bản phạm tội quả tang (Bút lục 30) và biên bản khám xét (bút lục 52) thể hiện: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố H đã thu giữ 13 gói có ghi chữ “Crispy Fruit Mango”. Qua giám định, đã xác định 13 gói có ghi chữ: “Crispy Fruit Mango” là ma túy ở thể rắn, khối lượng 235,7838 gram, loại Bromazepam. Đây là loại chất ma túy thuộc Danh mục III của Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2020 về quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất (Kết luận giám định số 1735/KLGĐ-H và Kết luận giám định số 1736/KLGĐ-H ngày 13/10/2020 của Phòng K1 - Công an Thành phố H). Như vậy, các kết luận giám định đã xác định đúng loại và khối lượng của loại chất ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, đề nghị của luật sư về việc trả hồ sơ để giám định hàm lượng chất ma túy là không cần thiết, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Với hành vi nêu trên, có đủ căn cứ để kết luận Nguyễn Hữu T, Huỳnh Đức V đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Các bị cáo biết rõ ma túy không những hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng, mà còn là một trong những nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nhưng vì động cơ tư lợi các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã phân tích. Trong đó, bị cáo T phạm tội với vai trò chủ mưu; bị cáo V phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo T. Do đó, khi lượng hình cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội, nhân thân và vai trò của từng bị cáo bị cáo, mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Ngoài ra, xét về nhân thân, bị cáo T có nhân thân xấu, do đó Hội đồng xét xử cũng xem xét cân nhắc tình tiết này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 để quyết định mức hình phạt phù hợp. Riêng bị cáo V phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức nên cần áp dụng thêm Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 để phân hóa trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[3]. Lập luận trên đây cũng là căn cứ của Hội đồng xét xử về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đối với phần luận tội, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng như quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa.
[4]. Đối với Nguyễn Thị Bích H2 là người sống chung như vợ chồng với bị cáo T tại địa chỉ số F đường P, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, khai nhận không biết và không tham gia vào việc bị cáo T mua bán ma túy, lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo T và V. Do đó, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát không xử lý hình sự đối với bà H2 là có căn cứ.
[5]. Ngoài hình phạt chính thì Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 1735/2020, có chữ ký ghi tên giám định viên Trần Đình H3 và Cán bộ điều tra Phan Đức H4 bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định. Đây là vật chứng vụ án, vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 1736/2020, có chữ ký ghi tên giám định viên Trần Đình H3 và Cán bộ điều tra Phan Đức H4 bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định. Đây là vật chứng vụ án, vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu S imeil: …275/5. Đây là tài sản của bị cáo V dùng để liên lạc mua bán ma túy, nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng (không kiểm tra được imei, tình trạng bên trong do không có nguồn điện, số imei ở khay sim: …9771). Đây là tài sản của bị cáo T dùng để liên lạc mua bán ma túy, nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng (không kiểm tra được imei, tình trạng bên trong do không có nguồn điện, số imei ở khay sim: …/6528). Đây là tài sản của bị cáo T dùng để liên lạc mua bán ma túy, nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước
- 09 vỏ bằng kim loại, 01 hộp giấy màu hồng và 01 túi nylon màu xanh. Vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm e khoản 3 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T: 17 (Mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2021. Phạt bổ sung bị cáo: 10.000.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Căn cứ điểm e khoản 3 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Đức V: 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2020. Phạt bổ sung bị cáo: 10.000.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu S imeil: …275/5.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng (không kiểm tra được imei, tình trạng bên trong do không có nguồn điện, số imei ở khay sim: …9771).
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng (không kiểm tra được imei, tình trạng bên trong do không có nguồn điện, số imei ở khay sim: …/6528).
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 1735/2020, có chữ ký ghi tên giám định viên Trần Đình H3 và Cán bộ điều tra Phan Đức H4 bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.
+ 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 1736/2020, có chữ ký ghi tên giám định viên Trần Đình H3 và Cán bộ điều tra Phan Đức H4 bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.
+ 09 vỏ bằng kim loại, 01 hộp giấy màu hồng và 01 túi nylon màu xanh.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2021/339 ngày 04/8/2021 và Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2022/281 ngày 04/3/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - Cục THA DS; (1) - Sở tư pháp; (1) - Bị cáo; (2) - THA HS; (2) - Trại T30; (2) - Phòng PV06 - CA Tp. HCM; (1) - Người có QL&NVLQ; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (2) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (24) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hà. |