vanban.org

Bản án 305/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về việc ly hôn với anh Nguyễn Hoàng P.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Hoàng P. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 18/12/2009 và Nguyễn Tấn T, sinh ngày 01/10/2013 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Hoàng P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về việc ly hôn với anh Nguyễn Hoàng P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 305/2019/HNGĐ-ST
Ngày 27-11-2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Năm

Ông Bùi Xuân Minh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 722/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 414/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L – sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng P – sinh năm 1985. Địa chỉ: Khóm 8, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/11/2019, biên bản hòa giải ngày 21/11/2019 và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh P kết hôn năm 2009, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hiện tại vợ chồng đã ly thân nhau. Xét thấy cuộc sống chung không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh P.

Về con chung: Có hai người con chung, cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 18/12/2009, cháu Nguyễn Tấn T, sinh ngày 01/10/2013. Hiện hai cháu đang sống với chị. Chị yêu cầu anh được trực tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định tự thõa thuận với bị đơn, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản hòa giải ngày 21/11/2019, anh Nguyễn Hoàng P xác định:

Về hôn nhân: Anh và chị L kết hôn năm 2009, hôn nhân do anh tự nguyên không ép buộc, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết theo quy định pháp luật. Hiện tại vợ chồng anh đã ly thân nhau, anh không đồng ý ly hôn với chị L. Anh xác định mâu thuẫn giữa anh chị là không lớn, anh vẫn còn yêu chị và mong muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng để cùng nhau lo cho các con.

Về con chung: Có hai người con chung là cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 18/12/2009, cháu Nguyễn Tấn T, sinh ngày 01/10/2013. Hiện hai cháu đang sống với chị L, anh đồng ý giao hai cháu cho chị Lụa trực tiếp nuôi dưỡng, anh yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định tự thõa thuận với nguyên đơn, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng P có hộ khẩu thường trú tại khóm 8, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh P, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chị L là người khởi kiện anh P là người bị kiện nên xác định tư cách đương sự chị L là nguyên đơn, anh P là bị đơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh P yêu cầu được xét xử vắng mặt; căn cứ theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt anh P theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh P tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã Lâm Hải, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau vào ngày 11/3/2009 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh P được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và được bảo vệ.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh P và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Anh P không đồng ý ly hôn với chị L, muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên, anh P không trình bày được biện pháp để hàn gắn quan hệ vợ chồng, không tác động được chị L chấp nhận quay về sống chung với anh. Chị L xác định, nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh P.

[3] Về con chung: Chị L và anh P có 2 người con chung là cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 18/12/2009, cháu Nguyễn Tấn T, sinh ngày 01/10/2013. Các cháu hiện đang sống cùng với chị L, Tòa án có ghi nhận ý kiến trình bày của cháu N và cháu có nguyện vọng được sống chung cùng với cha mẹ, do cháu T hiện còn nhỏ, chưa đủ tuổi để ghi nhận nguyện vọng của cháu theo quy định của pháp luật nên cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của các bên để quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng cháu. Chị L và anh P thống nhất giao các cháu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chị L cũng là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu từ khi sinh ra cho đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao các cháu cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các bên, đảm bảo cuộc sống ổn định vốn có của của các cháu lâu nay và đúng với quy định của pháp luật.

[4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con, đây là ý chí tự nguyện của chị L nên được chấp nhận.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh P xác định tự thõa thuận với nhau, không yêu cầu tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị L phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về việc ly hôn với anh Nguyễn Hoàng P.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Hoàng P.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 18/12/2009 và Nguyễn Tấn T, sinh ngày 01/10/2013 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Hoàng P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Anh Nguyễn Hoàng P không phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Chị có nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002862 ngày 12 tháng 11 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu, chị Nguyễn Thị L không phải nộp tiếp.

Chị Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Hoàng P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ