vanban.org

Bản án 305/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 24/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Hoàng Ngọc S 7 ( bảy ) năm 9 ( chín ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2018. Truy thu bị cáo 50.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 305/2018/HS-ST
Ngày: 24/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thiệu

Bà Đào Thị Thu Hoàn

- Thƣ ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Thƣ ký Toà án nhân dân

quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 24/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 302/2018/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 305/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: HOÀNG NGỌC S– sinh năm:1985; Tên thƣờng gọi khác: không; HKTT: số 2 O, phƣờng O, quận Đ, Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 06/12; Con ông: Hoàng Ngọc T (c); Con bà: Đỗ Thị M; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Ngày 22/4/2010, TAND quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử 36 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chƣa xóa án tích;Nhân thân: Ngày 15/4/2004, TAND quận Đống Đa xử phạt 15 tháng tù treo về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đã xóa án tích; Ngày 16/6/2006, TAND quận Hoàng Mai xử phạt 22 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đã xóa án tích; Danh chỉ bản số 0350 lập ngày 29/7/2018 do công an Quận Hai Bà Trƣng cung cấp; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/7/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Bùi Việt A – sinh năm: 1996; Trú tại: số 65 phố T, phƣờng N, quận H, Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 09h00 ngày 25/07/2018, Hoàng Ngọc S đi bộ ra khu vực cổng công viên Thống Nhất – đƣờng Lê Duẩn, phƣờng Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội để tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây, S gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 04 (bốn) gói ma túy “đá” với giá 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn đồng). S cất số ma túy vừa mua đƣợc vào túi quần phía sau bên phải S đang mặc. Khoảng 14h30 cùng ngày, S đi đến nhà Bùi Việt A chơi. Tại nhà Việt A tại số 65 phố T, phƣờng N, Quận H, Hà Nội, S thấy Việt A và Ngô Thị T đang ngủ trên tầng 2 nên đi về. Khi đi xuống gác xép tầng 1 thì S bị tổ công tác CAP Nguyễn Du kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra hành chính, S tự giác lấy từ túi quần phía sau bên phải ra 01(một) túi nilon màu trắng bên trong có 04 (bốn) gói nilon màu trắng, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác tại khu vực trƣớc cửa nhà số 65 Trần Nhân Tông. Tổ công tác đã lập biên bản niêm phong, đƣa S, Việt A, T cùng tang vật về trụ sở tiếp tục điều tra, làm rõ.

Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của S 01(một) điện thoại di động Mobistar B208; tạm giữ của Việt A 01(một) điện thoại di động Nokia.

Qua khai thác mở rộng điều tra, Hoàng Ngọc S còn khai nhận: Khoảng 18h00’ ngày 24/07/2018, S đi bộ đến khu vực cổng công viên Thống Nhất – đƣờng Lê Duẩn, quận Hai Bà Trƣng để tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây, S gặp và mua của nam thanh niên đã bán ma túy cho S vào ngày 25/7/2018, 02 (hai) gói ma túy “đá” với giá 450.000đ (bốn trăm năm mƣơi nghìn đồng), trong đó gói nhỏ giá 150.000đ (một trăm năm mƣơi nghìn đồng) và gói lớn hơn với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), rồi đi bộ đến nhà Việt A chơi. Khoảng 20h00’ cùng ngày, S gặp Việt A tại trƣớc cửa nhà Việt A- số 65 T, phƣờng N, quận H, Hà Nội. Tại đây, Việt A hỏi mua của S 01 (một) gói ma túy “đá”, S đồng ý và bán cho Việt Agói ma túy “đá” nhỏ với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Sau đó, S đi bộ lang thang và sử dụng hết gói ma túy “đá” còn lại. Số tiền lãi 50.000đ (năm mƣơi nghìn đồng) S đã tiêu xài hết

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Ngọc S khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ trên.

Tại cơ quan điều tra, Bùi Việt Avà Ngô Thị T khai phù hợp với lời khai của S và khai khoảng 21h30 ngày 24/7/2018, khi Việt A đang ở nhà thì T đến chơi nên Việt A đã lấy gói ma túy mua của S ra để sử dụng cùng với T.

Cơ quan CSĐT – CA quận Hai Bà Trƣng đã ra quyết định trƣng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của Hoàng Ngọc S.

Tại bản kết luận giám định số 6260 ngày 01/8/2018 của phòng KTHS-CATP Hà Nội kết luận: 04 (bốn) gói nilon trong suốt bên trong đều chứa tinh thế màu trắng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,113 gam.

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho S vào các ngày 24,25/07/2018, S khai không biết rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với chiếc điện thoại Mobistar B208 màu đen là tài sản riêng của S, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với chiếc điện thoại Nokia màu đen là tài sản riêng của Việt A, không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với Bùi Việt Avà Ngô Thị T, quá trình điều tra xác định khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/07/2018, Việt A và T có sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, ngày 18/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trƣng đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Việt Avà T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Tại cáo trạng số 285/CT-VKS ngày 30/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Hoàng Ngọc S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận tội nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 25/7/2018 tại khu vực trƣớc cửa số nhà 65 phố T, phƣờng N ,quận H, Hà Nội. Hoàng Ngọc S đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,113 gam ma túy Methamphetamin mục đích để bán. Trƣớc đó khoảng 20 giờ ngày 24/7/2018 cũng tại địa chỉ trên, S đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy đá cho Bùi Việt A để hƣởng lợi số tiền 50.000 đồng. Bị cáo nhận tội, xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 251 khoản 2 điểm b, , khoản 5; Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 52 khoản 1 điểm h của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Hoàng Ngọc S với mức án từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.

Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 khoản 1 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 khoản 2 điểm a Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tịch thu tiêu hủy 1,113 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo. Truy thu số tiền 50.000 đồng bị cáo hƣởng lợi bất chính. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động điện thoại Mobistar B208 màu đen. Trả lại anh Việt A 01 điện thoại di động Nokia màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Ngọc S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Đƣợc chứng minh bằng lời khai thống nhất giữa bị cáo và Bùi Việt A– ngƣời mua ma túy - và tang vật vụ án thu đƣợc của bị cáo 04 gói nilon trong suốt bên trong chứa tinh thể màu trắng. Theo Kết luận giám định số: 6260/KLGĐ-PC09 ngày 01/8/2018, Phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 04 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine khối lƣợng 0,113 gam . Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 25/7/2018 tại khu vực trƣớc cửa số nhà 65 phốT, phƣờng N,quận H, Hà Nội Hoàng Ngọc S đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,113 gam ma túy Methamphetamin mục đích để bán. Ngoài ra, bị cáo khai nhận trƣớc đó khoảng 20 giờ ngày 24/7/2018 cũng tại địa chỉ trên, S đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy đá cho Bùi Việt A để hƣởng lợi số tiền 50.000 đồng. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về tiền án, tiền sự: Bị cáo có 01 tiền án chƣa đƣợc xóa : Ngày 22/4/2010 TAND quận Đống Đa xử 36 tháng tù về tội:” Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, trị giá tài sản chiếm đoạt là 17.090.500 đồng. Tại biên bản xác minh thi hành ngày 01/10/2018 thể hiện bị cáo chƣa thi hành xong các quyết định của bản án.

- Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án năm 2004 và năm 2006 về các tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đều đã xóa án tích. Đối với án tích năm 2006 TAND quận Hoàng Mai xử 22 tháng tù về tội :” Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù treo của bản án năm 2004, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là: 37 tháng tù. Theo biên bản xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai cho biết, Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai chƣa nhận đƣợc bản án này của TAND quận Hoàng Mai nên không có căn cứ để ra Quyết định thi hành án đối với bị cáo. Đây là lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và tính đến thời điểm hiện tại đã hết thời hiệu thi hành bản án hình sự năm 2006 của bị cáo nên xác định án tích này của bị cáo đã đƣợc xóa theo hƣớng có lợi cho bị cáo.

Khi lƣợng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tƣơng xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:

-Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chƣa đƣợc xóa nên phạm tội lần này là tái phạm cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 đối với bị cáo.

-Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về tội lỗi của mình. Đây là tình tiết để giảm nhẹ nên áp dụng Điều 51 khoản 1 điểm s Bộ luật hình sự 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt:

- Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Hoàng Ngọc S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý ma túy của Nhà nƣớc ta, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng do hám lời vẫn cố tình phạm tội. Trong hai ngày 24 và 25/7/2018 bị cáo đã mua ma túy để bán kiếm lời. Bị cáo phạm tội từ hai lần trở lên. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn chính xác,cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

- Về hình phạt bổ sung: xét trong trƣờng hợp này bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.

Về biện pháp tƣ pháp: áp dụng Điều 47 khoản 1 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 khoản 2, khoản 3 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy 0,113 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo.

Truy thu của bị cáo 50.000 đồng do bị cáo hƣởng lợi từ việc bán ma túy.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar B208, số Imei: 352208023488102

Trả lại anh Bùi Việt A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei: 359583/05/935051/4

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điều 251 khoản 2 điểm b; Điều 51 khoản 1 điểm s; Điều 52 khoản 1 điểm h Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Hoàng Ngọc S 7 ( bảy ) năm 9 ( chín ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2018.

-Căn cứ Điều 47 khoản 1 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 khoản 2,khoản 3 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Truy thu bị cáo 50.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy đã đƣợc niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Hoàng Ngọc S, bên trong chứa 0,113 gam Methamphetamine.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar B208, số Imei: 352208023488102

Trả lại anh Bùi Việt A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei: 359583/05/935051/4

( Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 30 tháng 10 năm 2018, tang vật số 28/19 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội).

- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 khoản 1; Điều 332 và Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21 khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc tống đạt hợp lệ bản án.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ