- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hải Thủy H - giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải Thủy H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 304/2026/HS-ST Ngày: 26/5/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Thế Cần
2/ Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 212/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2026, đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hải Thủy H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 05 tháng 3 năm 2006, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ E, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đ); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; cha: Nguyễn Hải Thủy V, sinh năm 1982 (còn sống); mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985 (Còn sống); Gia đình bị cáo có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 16/8/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 06 (S) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bản án số 245/2024/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2024, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/02/2026 theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 731/LB-VPCQCSĐT ngày 06/02/2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Triều/Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Đ.
(Bị cáo có mặt)
- Bị hại: Cháu Mạc Thị Tuyết N sinh ngày 30/5/2012; Thường trú: 122/10/6 T, phường K, thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Tổ B, ấp H, xã L, thành phố Đ; (vắng mặt)
- Người giám hộ: Bà Mạc Thị Kim H2, sinh năm 1993; Thường trú: 122/10/6 T, phường K, thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Tổ B, ấp H, xã L, thành phố Đ; (vắng mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu N: Ông Nguyễn Doãn N1
- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T2 thành phố Đ. (có mặt)
- Người làm chứng: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1964.
Địa chỉ: A, cư xá Đ, khu phố A, phường T, thành phố Đ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 10/2025, Nguyễn Hải Thủy H (là người có tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích) và cháu Mạc Thị Tuyết N (sinh ngày 30/5/2012, ngụ tại nhà T, tổ A, ấp B, xã T, thành phố Hồ Chí Minh quen biết nhau mạng xã hội facebook và có quan hệ tình cảm với nhau. Ngày 13/11/2025, H sử dụng điện thoại di động hiệu Redmi 13C đăng nhập vào tài khoản facebook “Nguyen Soi” nhắn tin qua tài khoản facebook “Kem be” của cháu N để rủ cháu N đi Đồng Nai chơi thì cháu N đồng ý và gửi định vị phòng trọ cho H.
Đến 09 giờ ngày 14/11/2025, H điều khiển xe mô tô hiệu Citi (không rõ biển số) đến phòng trọ của cháu N để chở cháu N đến phường T, tỉnh Đồng Nai đi chơi và ăn uống. Đến 18 giờ cùng ngày, H nói với cháu N tìm nhà nghỉ để ngủ thì cháu N đồng ý. H chở cháu N đến nhà nghỉ “6069”, địa chỉ A5 cư xá điện lực, tổ A, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai, thuê phòng số 204 để nghỉ. Khi nghỉ tại phòng, H nói với cháu N muốn quan hệ tình dục thì cháu N đồng ý. Cả hai tự cởi hết quần áo rồi nằm ôm nhau trên giường, H dùng tay trái sờ vào ngực và dùng miệng hôn ngực cháu N, khoảng 05 phút sau H lấy bao cao su có sẵn trong phòng tự đeo vào dương vật đã cương cứng. Lúc này, cháu N nằm ngửa trên giường và dang hai chân, H nằm úp phía trên người cháu N và đưa dương vật đang cương cứng và âm đạo của cháu N để quan hệ với cháu N khoảng 30 phút thì H xuất tinh trong bao cao su và dừng việc quan hệ với cháu N, sau đó cả hai vào nhà vệ sinh tắm rồi đi ngủ.
Đến 07 giờ ngày 15/11/2025, H và cháu N thức dậy trả phòng rồi cùng đi ăn sáng, sau đó cả hai đi đến tiệm N3 “Dragon Gaming” tại số A, đường P, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai để chơi game. Đến 05 giờ ngày 16/11/2025, H chở cháu N về nhà nghỉ “6069” thuê phòng số 203 để nghỉ. Sau khi vào phòng, H nói với cháu N muốn quan hệ tình dục thì cháu N đồng ý. Cả hai tự cởi hết quần áo, H lấy bao cao su có sẵn trong phòng tự đeo vào dương vật đã cương cứng. Lúc này, cháu N nằm ngửa trên giường và dạng hai chân, H nằm úp phía trên người cháu N và đưa dương vật đang cương cứng và âm đạo của cháu N để quan hệ với cháu N, khoảng 30 phút thì cháu N nói H đừng xuất tinh trong bao cao su, xuất tinh trong miệng của cháu N nên H rút dương vật ra khỏi âm đạo của cháu N rồi H nằm ngửa trên giường và gỡ bao cao su ra, cháu N ngồi dậy dùng miệng ngậm dương vật của H khoảng 01 phút thì H xuất tinh vào miệng của cháu N, sau đó cả hai đi tắm và đi ngủ. Đến khoảng 10 giờ ngày 16/11/2025, H và cháu N trả phòng, đi ăn sáng và đến tiệm N2 “Dragon Gaming” để chơi game, sau đó đi chơi, đi ăn uống đến 13 giờ ngày 17/11/2025 H chở cháu N về lại phòng trọ của cháu N rồi điều khiển xe ra về.
Đến ngày 20/11/2025, cháu N kể lại sự việc giao cấu với H cho chị Mạc Thị Kim H2 (sinh năm 1993) là mẹ của cháu N biết. Ngày 08/12/2025, chị H2 và cháu N đến Công an phường T trình báo sự việc. Công an phường T lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, ngày 06/02/2026 H bị khởi tố để điều tra xử lý.
Tại kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 0090.02/KLTDTE-TTPYĐN ngày 22 tháng 01 năm 2026 của Trung tâm P đã kết luận:
“Màng trinh: hình chop loe, đường kính lỗ trinh 1,2cm. Màng trinh không rách, bờ mép chân và chân màng trinh không phù nề, không xung huyết, không chảy máu”.
Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKSKV1 ngày 01/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Hải Thủy H về tội “ Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h Điều 52 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Thủy H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị H1 (là mẹ của Nguyễn Hải T1 H) đã bồi thường số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) cho cháu Mạc Thị Tuyết N, cháu N không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cháu Mạc Thị Tuyết N: Thống nhất với toàn bộ quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo Nguyễn Hải Thủy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ (nay là Công an thành phố Đ), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 18 giờ ngày 14/11/2025, tại phòng số 204 nhà nghỉ “6069”, địa chỉ A5, cư xá điện lực, tổ A, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hải Thủy H đã có hành vi giao cấu với cháu Mạc Thị Tuyết N (sinh ngày 30/5/2012, 13 tuổi 5 tháng 14 ngày). Đến khoảng 05 giờ ngày 16/11/2025, tại phòng số 203 nhà nghỉ “6069”, địa chỉ A5, cư xá điện lực, tổ A, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai, H tiếp tục có hành vi giao cấu với cháu N (13 tuổi 5 tháng 16 ngày).
Xét thấy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hải T1 H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự. Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu N đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em, gây tâm lý bất bình, lên án trong xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng chỉ vì ham muốn dục vọng của bản thân và lợi dụng sự chưa chín chắn trong tình dục của bị hại để thực hiện hành vi giao cấu với bị hại. Bị cáo thực hiện hành vi giao cấu với cháu N khi cháu N trên 13 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi. Vì vậy, cần có một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Hải Thủy H có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị H1 (là mẹ của Nguyễn Hải T1 H) đã bồi thường số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) cho cháu Mạc Thị Tuyết N, cháu N không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Xét ý kiến của trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cháu Mạc Thị Tuyết N phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai tại phiên toà phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải Thủy H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hải Thủy H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt 11/02/2026.
+ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Hải Thủy H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND TP. Đồng Nai; - Phân trại tạm giam Tân Triều; - Trại tạm giam Công an TP. Đồng Nai; - VKSND khu vực 1 – Đồng Nai; - Thi hành án dân sự TP. Đồng Nai; - THA hình sự - Công an TP. Đồng Nai; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Võ Văn Toàn |