- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị Nguyễn Tiến Q, Võ Phi S; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2025/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 303/2025/HS-PT Ngày 16 tháng 9 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Ý
Ông Phạm Văn Công
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Châu Loan - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khánh T - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 407/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Tiến Q, Võ Phi S do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2025/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Tiến Q; giới tính: Nam; sinh ngày 14 tháng 11 năm 1999, tại tỉnh Gia Lai; hộ khẩu thường trú: Thôn M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là xã C, tỉnh Gia Lai); chỗ ở trước khi bị bắt: Số C Đường số A, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971 và bà Trương Thị T1, sinh năm 1977; bị cáo còn có 01 người em tên Nguyễn Tiến H, sinh 2002 và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; tạm giam: Ngày 15/12/2022; có mặt.
2. Võ Phi S; giới tính: Nam; sinh ngày 04 tháng 6 năm 1994, tại tỉnh Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk); hộ khẩu thường trú: Số nhà E, đường H, thôn H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là xã C, tỉnh Gia Lai); chỗ ở trước khi bị bắt: Số A, đường T, thôn M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là xã C, tỉnh Gia Lai); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; con ông Võ Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hoàng D1, sinh 1964; bị cáo có vợ là Nguyễn Đặng Thu T2, sinh 1997 và có 01 người con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam: Ngày 30/8/2024; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến Q: Ông Huỳnh Anh T3 là Luật sư của Công ty L và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Phi S: Bà Nguyễn Ngọc T4 là Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng do không có kháng cáo, kháng nghị và không liên quan tới kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 15/12/2022, tại trước nhà số B Đường số A, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ công tác gồm Đội 7 Phòng PC04 Công an Thành phố H phối hợp cùng Phòng PC04 Công an thành phố H, Đội kiểm soát ma túy - Cục Hải quan Thành phố H, Cục Điều tra chống buôn lậu - T6, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận G và Công an P, quận G phát hiện Nguyễn Tiến Q đang nhận 03 kiện hàng (thùng giấy) từ nhân viên giao hàng của Bưu cục V có biểu hiện nghi vấn nên đưa về Công an P, quận G để kiểm tra. Qua đó thu giữ quả tang 03 kiện hàng (thùng giấy) có dán giấy vận đơn của Bưu cục VIETTEL POST in mã số: 1676397422863 và các thông tin: “Người gửi: Nguyễn Văn T5; Địa chỉ: S, P. S, Q. L, TP .; Điện thoại: xxxxxxxxxx; Người nhận: T1; Địa chỉ: F Đ.Quang Trung, P.11, Q.G, TP .; Điện thoại: xxxxxxxxxx”, bên trong mỗi kiện hàng có 01 máy pha cà phê hiệu Melitta, bên trong mỗi máy có 01 túi nylon màu đen, phía trên miệng túi được quấn băng keo, bên trong mỗi túi chứa nhiều viên nén màu vàng; kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 22.599,84 gam loại MDMA.
Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 15/12/2022, Tổ công tác tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến Q tại Phòng 301, nhà số C Đường số A, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện và thu giữ:
Trên sàn nhà khu vực cuối giường ngủ: 01 túi nylon chứa chất bột màu trắng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0022 gam loại Ketamine; 01 túi nylon chứa tinh thể màu trắng, kết quả giám định khối lượng 99,3230 gam, không tìm thấy ma tuý; 04 túi nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 80,2002 gam loại Ketamine; 01 túi nylon chứa 25 viên nén có nhiều màu sắc khác nhau, kết quả giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 6,8074 gam loại MDMA.
Thu giữ tại vị trí đầu giường ngủ: 01 đĩa nhựa hình tròn chứa tinh thể màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,291 gam loại Ketamine.
Ngày 28/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H phối hợp cùng với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Gia Lai và Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai tiến hành triệu tập làm việc và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Phi S. Qua khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma tuý.
Toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Tiến Q đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 25/KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng K Công an Thành phố H.
Kết quả điều tra xác định:
Võ Phi S khai nhận được một người đàn ông bên Đ tên “Cọt” (không rõ lai lịch) thuê S phụ giúp giao nhận ma tuý tại Thành phố Hồ Chí Minh, giúp sức cho S là Nguyễn Tiến Q có nhiệm vụ giao nhận ma túy cho khách để nhận tiền công. Cọt đã chỉ đạo S kêu Q tiến hành giao nhận ma tuý cho khách 02 lần, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào giữa tháng 11/2022, theo sự chỉ đạo của “Cọt”, S đã chỉ đạo Q nhận 10 thùng thuốc lắc (10.000 viên), ma túy loại MDMA, Q nhắn cho S qua telegram địa chỉ nhận ma tuý là tại F Q, Phường A, quận G với tên người nhận là “T1” (tên người nhận là T1 là do C kêu S nói với Q lấy tên như vậy), số điện thoại người nhận là xxxxxxxxxx (đây là số điện thoại của Q). Sau khi Q nhận ma tuý, S gửi thông tin người khách của “Cọt” cho Q để khách đến gặp Q nhận ma tuý. Giao ma túy thành công, C đã chuyển khoản 150.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Q, trong đó tiền công của S 100.000.000 đồng, của Q 50.000.000 đồng. Nhận được tiền, Q chuyển lại vào tài khoản ngân hàng M của S nhiều lần với tổng số tiền 94.000.000 đồng, số tiền 6.000.000 đồng còn lại, S cho Q thêm tiền chi phí đi lại.
Lần thứ hai: Khoảng đầu tháng 12/2022, cũng với hình thức giống với lần thứ nhất, C chỉ đạo S kêu Q nhận 30 thùng (30.000 viên) thuốc lắc. Sau khi Q nhận ma tuý từ dịch vụ giao hàng thì bị lực lượng Công an bắt giữ, biết Q đã bị bắt nên S trốn về Chư sê, Gia Lai. Quá trình sinh sống tại Gia Lai, S không phụ giúp Cọt mua bán ma tuý nữa. Đến khoảng giữa tháng 8/2024, do nợ nần nên S đã nhiều lần phụ giúp một người đàn ông tên “Hai” (không rõ lai lịch, sống bên Campuchia) mua bán ma tuý, số lượng từ nửa lạng (50g) Ketamine, 50 viên thuốc lắc cho đến 01 kg Ketamine với phương thức: “Hai” kêu S giới thiệu người mua bán ma tuý cho “Hai”, “Hai” sẽ tự giao dịch và cho người giao ma tuý cho khách, “Hai” không hứa trả công cho S, nhưng thỉnh thoảng S có mượn tiền của “Hai” và chỉ đến khi nào có tiền thì S mới trả cho “Hai”, số tiền S mượn từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Những đơn này toàn ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Do thông tin đơn đã bị xoá nên S không nhớ rõ cụ thể các giao dịch với khách và trao đổi với “Hai”.
Nguyễn Tiến Q khai nhận phù hợp với lời khai của Võ Phi S. Về nguồn gốc số ma túy (Ketamine và MDMA) thu giữ tại chỗ ở, Q khai mua của một người đàn ông có tài khoản telegram tên “tikitiki” (không rõ lai lịch) cách ngày bị bắt khoảng 01 tuần với giá 25.500.000 đồng, Q dự định bán lại số ma túy cho người khác với giá 160.000 đồng/viên để kiếm lời.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2025/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Q: Tử hình, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Q phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
2. Xử phạt bị cáo Võ Phi S: Tử hình, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Buộc bị cáo Võ Phi S phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, bị cáo Võ Phi S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, bị cáo Nguyễn Tiến Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Tiến Q và Võ Phi S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về nội dung: Trên cơ sở biên bản phạm tội quả tang, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và xét xử, bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 22.606,6474 gam loại MDMA và 82,4934 gam loại Ketamine; bị cáo S phải chịu trách nhiệm mua bán trái phép 22.599,84 gam loại MDMA. Với khối lượng mua bán trái phép chất ma túy đặc biệt lớn, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Q và bị cáo S với mức án Tử hình là phù hợp. Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tiến Q trình bày quan điểm: Bị cáo Q có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải; tích cực hợp tác, giúp đỡ cơ quan điều tra phát hiện tội phạm mới là bị cáo Võ Phi S; số lượng ma túy bị cáo giúp sức cho bị cáo S mua bán đã bị thu giữ toàn bộ nên tính nguy hiểm cho xã hội có phần hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù chung thân đối với bị cáo Q cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo Nguyễn Tiến Q trình bày: Thống nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư.
Người bào chữa cho bị cáo Võ Phi S trình bày quan điểm: Thống nhất với tội danh Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là liệt sỹ; bị cáo là lao động chính trong gia đình; có con còn nhỏ; có công đóng góp làm từ thiện tại nơi sinh sống; bị cáo phạm tội lần đầu; tích cực phối hợp với cơ quan điều tra khai ra đối tượng “Cọt”; số lượng ma túy đã bị thu giữ toàn bộ nên tính nguy hiểm cho xã hội có phần hạn chế. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án tù Chung thân để tạo điều kiện cho bị cáo làm lại cuộc đời.
Bị cáo Võ Phi S: Thống nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư.
Bị cáo Nguyễn Tiến Q nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sống và làm lại cuộc đời.
Bị cáo Võ Phi S nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối hận, xin cho bị cáo một cơ hội sống.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tính hợp pháp của Đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tiến Q và Võ Phi S làm trong thời hạn luật định, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã được Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào lúc 13 giờ 15 phút ngày 15/12/2022 tại trước nhà số B Đường số A, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan công an đã phát hiện Nguyễn Tiến Q đang nhận 03 kiện hàng có chứa 22.599,84 gam loại MDMA từ nhân viên giao hàng của Bưu cục V1 để mang về nhà cất giấu để giao cho người mua theo chỉ đạo của Võ Phi S. Tiếp tục khám xét khẩn cấp chỗ ở của Q tại P, nhà số C, Đường số A, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện, thu giữ số ma túy Q đang cất giấu 82,4934 gam loại Ketamine và 6,8074 gam loại MDMA để bán kiếm lời. Trước đó, vào giữa tháng 11/2022 theo sự chỉ đạo của “Cọt”, S đã chỉ đạo Q nhận 10 thùng thuốc lắc (10.000 viên), ma túy loại MDMA. Ở lần này Q và S đã thu lợi bất chính số tiền 150.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo Q phải chịu trách nhiệm với khối lượng ma túy bị bắt quả tang và khám xét có tổng khối lượng 22.606,6474 gam loại MDMA và 82,4934 gam loại Ketamine. Còn bị cáo S phải chịu trách nhiệm với khối lượng ma túy bị bắt quả tang có khối lượng 22.599,84 gam loại MDMA.
Với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo Nguyễn Tiến Q và bị cáo Võ Phi S đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 4 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và các tội phạm khác trong xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy đối với con người và những ảnh hưởng tiêu cực của ma túy gây ra cho xã hội nhưng vì động cơ vụ lợi, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội với quy mô và khối lượng ma túy đặc biệt lớn nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Tiến Q và Võ Phi S đều khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp chưa có tiền án, tiền sự nên cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; tại phiên tòa sơ thẩm ngày 10/4/2024, bị cáo Q đã khai ra đồng phạm là Võ Phi S nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo S có ông nội là liệt sỹ, bản thân là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ và có đóng góp làm từ thiện tại nơi sinh sống nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mặc dù được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 nhưng các bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng đặc biệt lớn nên cần phải áp dụng mức hình phạt cao nhất cách ly vĩnh viễn các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung, nhất là trong bối cảnh tội phạm ma túy đang hoành hành trên cả nước và có chiều hướng gia tăng về số lượng, quy mô, tính chất phạm tội.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh; không chấp nhận quan điểm bào chữa của các Luật sư.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2025/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị Nguyễn Tiến Q, Võ Phi S; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2025/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Áp dụng: Điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 40, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên xử:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Q: Tử hình về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Q phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
2. Áp dụng: Điểm b khoản 4 và khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 40, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên xử:
Xử phạt bị cáo Võ Phi S: Tử hình về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho công tác thi hành án.
Buộc bị cáo Võ Phi S phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến Q và bị cáo Võ Phi S có quyền gửi đơn xin ân giảm tới Chủ tịch N để xem xét.
4. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Tiến Q, Võ Phi S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2025/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Vụ Pháp chế và Quản lý Khoa học; - Viện CT và KSXXPT tại TP. Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh; - Công an TP Hồ Chí Minh; - Thi hành án Dân sự TP Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam Chí Hoà; - Bị cáo bị tạm giam; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, VP, NTCL. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Mạnh Cường |