- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn C - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 303/2024/HS-ST Ngày 19 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Trao
Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký Tòa án: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: ông Vũ Đình Tứ – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 337/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 337/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn C, sinh năm 1992 tại tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm B, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; Nơi ở hiện nay: ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Hoàng Thị R; Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 05/9/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 30 phút, ngày 04/9/2024, Hoàng Văn C đi xe ôm từ Cơ sở T1 ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai đến khu vực ngã ba N, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai gặp một người (chưa rõ nhân thân) mua 01 gói ma túy loại Heroin với giá là 1.500.000 đồng. Sau khi nhận ma túy, C mang về phòng trọ số 05 Cơ sở trọ Nguyễn Thành T cất dấu. Đến 09 giờ 00 phút ngày 05/9/2024, C chia nhỏ số ma túy thành 03 (ba) đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 01cm X 03cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 (một) hộp nhựa màu cam, đường kính khoảng 07cm, cao khoảng 02cm, phía trên có chữ “VÀNG BẠC ĐÁ QUÝ”, bên trong có chứa chất bột màu trắng để cất giấu nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã L kiểm tra hành chính phát hiện số ma túy trên nên.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 03 (ba) đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 01cm x 03cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng được niêm phong kí hiệu M1.
- 01 (một) hộp nhựa màu cam, dường kính khoảng 07cm, cao khoảng 02cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng được niêm phong kí hiệu M2. (Bút lục: 45).
Tại Bản Kết luận giám định ma túy số: 1786/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
+ Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong giám định là ma túy, có khối lượng: 0,47710 gam loại: Heroine.
+ Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong giám định là ma túy, có khối lượng: 0,66179 gam loại: Heroine. (Bút lục: 22-24).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 329/CT.VKS ngày 27/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Hoàng Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Hoàng Văn C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về các biện pháp tư pháp, đề nghị: - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 1786/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo C khai nhận: Vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 05/9/2024, tại ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Hoàng Văn C đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,13889 gam loại: Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Kết quả giám định hàm lượng ma túy mà C tàng trữ có khối lượng là 1,13889 gam. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật .
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Theo kết luận giám định số ma túy thu giữ của bị cáo là loại Heroine có trọng lượng là 1,13889 gam. Mục đích bị cáo mua ma túy về để sử dụng. Bị cáo biết việc sử dụng ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội, cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Hiện nay tệ nạn này diễn ra hết sức phức tạp, lôi kéo nhiều người vào con đường nghiện ngập là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho C, hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục làm rõ, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Về các biện pháp tư pháp: 01 gói niêm phong số 1786/KL-KTHS ngày
3
12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, xử lý vật chứng và đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.
3. Về các biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 1786/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Tang vật trên hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/12/2024.
4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Nhơn Trạch; - Công an huyện Nhơn Trạch; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. 4 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hằng |