vanban.org

Bản án 303/2024/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình nhựa trên nắp màu đỏ có gắn ống thủy tinh hình ụ tròn và ống hút nước nhựa màu trắng bên trong không chứa gì. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/1…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 303/2024/HS-ST
Ngày 24-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Bạn

ông Nguyễn Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: bà Hồ Thị Thư - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố N - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 370/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 329/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H - sinh ngày 13/7/1997 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn C - xã T - thị xã N - Khánh Hòa; Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức D và bà Huỳnh Thị P; Có vợ là Trương Thị M (1994); Tiền sự, tiền án: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024; Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Huỳnh S - sinh năm 1984

Trú tại: Khu phố M - phường T - thị xã N - Khánh Hòa; Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Trần Trọng H - sinh năm 1967; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 26/3/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N phối hợp Công an phường V - thành phố N, tuần tra đến khu vực bãi đất trống bên cạnh nhà số 12A đường Đ - phường V - thành phố N, phát hiện Huỳnh S, Nguyễn Văn H có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 02 bịch nylon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu A), Huỳnh S giao nộp 01 bình nhựa, trên đầu có nắp màu đỏ gắn ống thủy tinh hình ụ tròn và ống hút nước nhựa màu trắng. Tại trụ sở Công an phường V, H và S khai: khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 26/3/2024, H gặp S ở Công viên B - phường V - thành phố N. Cả hai bàn nhau lên "lầu 7" gặp một thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch), H đưa 200.000đ cho thanh niên này, người này đưa cho H 02 bịch ma túy "đá". Sau khi mua xong, cả hai đi đến bãi đất trống gần nhà 12A đường Đ định sử dụng thì bị bắt. Tại bản kết luận giám định số 197/2024/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: tỉnh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3106 gam, loại Methamphetamine. Tại bản cáo trạng số 271/CT-VKSNT ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 01 năm tù đến 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng và án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. [2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện rõ lời khai của người này nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt. [3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 26/3/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N phối hợp với Công an phường V

- thành phố N, khi tuần tra đến khu vực bãi đất trống bên cạnh nhà số 12A đường Đ - phường V - thành phố N thì phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn H tàng trữ trái phép 0,310gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện, hướng thần do Nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng mà không được phép của Nhà nước đều bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Điều này thể hiện thái độ xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền sự, tiền án. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho H và S, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố N đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có cơ sở sẽ xử lý sau.

Đối với Huỳnh S: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố N đã ra Quyết định truy tìm người số 5822/QĐ-CSĐT(ĐMT) ngày 20/8/2024, Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 5822/QĐ-CSĐT(ĐMT) ngày 20/8/2024, Thông báo về việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm số 10815/TB-CSĐT-ĐMT ngày 07/11/2024 đối với hành vi của Huỳnh S.

[6] Về vật chứng: Số ma túy thu giữ đã được sử dụng hết trong quá trình giám định (Bút lục số 27). Bình nhựa có nắp gắn với ống thủy tinh hình ụ tròn và ống hút nước bằng nhựa là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình nhựa trên nắp màu đỏ có gắn ống thủy tinh hình ụ tròn và ống hút nước nhựa màu trắng bên trong không chứa gì. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố N với Chi cục thi hành án dân sự thành phố N). Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Văn H nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ