vanban.org

Bản án 303/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Tiến Dũng - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!VINH!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TỈNH!NGHỆ!AN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 303 /2018/HSST
Ngày: 27/7/2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

!!!!!!!!!TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!VINH!-!NGHỆ!AN!!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Lê Thị Thúy

Các"hội"thẩm"nhân"dân:

Ông Trần Đức Hảo và bà Nguyễn Thị Mai Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Yến - là thư ký của Tòa án nhân dân

thành phố Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà:

Ông Lưu Đức Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2018; tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh,

tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 311/2018/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 399/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao!Tiến!D; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 19 tháng 9 năm

1996 tại thành phố V, Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: khối , phường ,thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cao Thành V – Sinh năm: 1971 và bà Lê Thị Thu A – Sinh năm: 1971; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2018 đến nay. Có mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ, ngày 09/4/2018, Cao Tiến D đi chơi tại quán bar 48

đường Ng, thuộc phường Hưng, thành phố Vinh thì nhặt được 01 gói potylen màu trắng bên trong có chứa ma túy cần sa, D mang về nhà cất dấu tại gốc cây bên cạnh nhà D để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 20 phút ngày 11/4/2018 có Lê Xuân Kh, sinh năm 1999, trú tại: khối , phường Hưng, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An gọi điện thoại cho D hỏi mua ma túy cần sa về sử dụng. D nảy sinh ý định bán gói ma túy cần sa trên cho Kh với giá 200.000 đồng lấy tiền xài. D hẹn Kh đến ngõ , đường Nguyễn thuộc khối, phường Đ, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để giao nhận tiền và ma túy. Đến khoảng 20 giờ 40 phút ngày 11/4/2018 Kh đến điểm hẹn gặp D và đưa cho D 200.000 đồng. D cầm tiền và chỉ chỗ để gói cần sa cho Kh, Kh đi đến nhặt lên thì bị tổ tuần tra cảnh sát cơ động Công an tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên tay Lê Xuân Kh 01 gói potylen màu trắng, bên trong chứa hoa, lá, quả thực vật sấy khô, cắt nhỏ, 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen đã qua sử dụng, thu giữ trong túi quần Cao Tiến D số tiền 200.000 đồng, 01 điện thoại di động Nokia 215 đã qua sử dụng. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Công an phường Vinh Tân, thành phố Vinh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại cơ quan điều tra, Cao Tiến D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và

niêm phong lại ngày 12/4/2018 của Công an thành phố Vinh và kết luận giám định số 519/KL-PC54 (MT) ngày 17/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu hoa, lá, quả sấy khô, cắt nhỏ thu giữ của Lê Xuân Kh và Cao Tiến D là ma túy cần sa, có khối lượng 4,87 gam.

Tại Bản cáo trạng số 340/CT-VKS-TPV ngày 12/7/2018, Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Cao Tiến Dvề tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh thực hành

quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Cao Tiến D từ 24 đến 27 tháng tù. Ngoài ra, còn đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình và

không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của cơ

quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét hành vi phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo Cao Tiến D khai nhận:

Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 11/4/2018, tại ngõ đường Nguyễn khối , phường Đ, thành phố Vinh tỉnh Nghệ An Cao Tiến D đang có hành vi bán trái phép cho Lê Xuân Kh 4,87 gam ma túy (cần sa) với giá 200.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của Cao Tiến D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết.

[2.2]. Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi đó gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi bất chính nên vẫn thực hiện. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái

độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, giai đình bị cáo có công với cách mạnh nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn

định, không có thu nhập và tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Đối với Lê Xuân Kh có hành vi mua ma túy mục đích để sử dụng, do khối

lượng ma túy chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố Vinh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[2.4]. Về xử lý vật chứng: Đối với ma túy (cần sa) thu giữ tại Cao Tiến D

và Lê Xuân Kh là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di dộng hiệu Nokia 125 của Cao Tiến Dsử dụng làm phương tiện trao đổi mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước, số tiền 200.000 thu giữ của Cao Tiến D do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;.

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus là tài sản hợp pháp của chị

Nguyễn Thị Thu Hương, quá trình Lê Xuân Kh sử dụng liên lạc mua bán ma túy chị Hương không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hương.

[2.5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì"các"lẽ"trên;"

QUYẾT!ĐỊNH!

!

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình

sự xử phạt bị cáo Cao Tiến D 2 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/4/2018.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, b

khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín ghi vật chứng thu giữ của Cao Tiến D; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di dộng hiệu Nokia màu xanh đã cũ và đã qua sử dụng, hiện có tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 985 ngày 20 tháng 7 năm 2018. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng hiện có tại kho bạc nhà nước tỉnh Nghệ An theo giấy nộp tiền số CT: 0000900 ngày 11/5/2018.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Cao Tiến D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án./.

Cỡ chữ