vanban.org

Bản án 303/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/07/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V

Bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 20.227.000 (Hai mươi triệu, hai trăm hai mươi bảy ngàn) đồng theo Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20141105-100173-0020. Trả tiền một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN G
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 303/2018/DS - ST
Ngày: 17 - 7 - 2018
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Thu Hồng

2. Ông Lê Bá Hợp

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệp - Thư ký Toà án nhân dân quận G.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận G tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 17/7/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận G xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 74/2018/TLST - DS, ngày 07/02/2018. Về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2018/QĐXXST - DS, ngày 27/6/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Địa chỉ trụ sở chính: Số 89 đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Chị Lương Thị Thanh T; chức vụ: Nhân viên

Văn bản ủy quyền lập ngày 15/01/2018.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B; địa chỉ: Số N đường P, Phường M, quận G.

NHẬN THẤY:

1. Trong đơn khởi kiện Tòa án nhận ngày 15/01/2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn - Ngân hàng thương mại cổ phần V, chị Lương Thị Thanh T trình bày:

Ngày 23/10/2014, bà Nguyễn Thị B có ký Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20141105-100173-0020 với Ngân hàng thương mại cổ phần V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 21.000.000 đồng với lãi suất thoả thuận 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà B có trách nhiệm thanh toán số tiền 45.637.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng; 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.270.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.187.000 đồng. Thanh toán vào ngày 06 hàng tháng. Bắt đầu từ ngày 06/12/2014.

Thực hiện hợp đồng, bà B đã nhận đủ số tiền vay và đã thanh toán cho Ngân hàng với tổng số tiền là 25.410.000 đồng. Kể từ ngày 01/07/2017 đến nay, bà B không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu:

Bà B phải trả cho Ngân hàng số tiền 20.227.000 đồng (Trong đó số tiền dư nợ gốc còn lại là: 13.001.432 đồng, số tiền lãi còn lại là 7.225.568 đồng).

Trả ngay sau khi bản án có hiệu lực.

Ngân hàng không yêu cầu bà B trả tiền lãi tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử sơ thẩm.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà B chậm trả tiền thì Ngân hàng yêu cầu bà B trả tiền lãi theo quy định khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự (không yêu cầu trả tiền lãi theo hợp đồng).

2. Bị đơn - Bà Nguyễn Thị B không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

3. Tài liệu, chứng cứ đã thu thập được gồm có:

3.1. Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp:

Bản chính: Giấy ủy quyền ngày 15/01/2018.

Bản sao:

Chứng minh nhân dân của chị Lương Thị Thanh T;

Giấy giải ngân hợp đồng vay của khách hàng Nguyễn Thị B;

Phê duyệt của Ngân hàng VPBank, ngày 06/11/2014;

Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 23/10/2014;

Chứng minh nhân dân và hộ khẩu của bà Nguyễn Thị B;

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Ngân hàng TMCP V;

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh Ngân hàng TMCP V;

Giấy căn cước của ông Lê Hiền T;

Quyết định của Giám đốc khối TDTĐ về việc bổ nhiệm nhân sự số 9898-2014/QĐBN-TDTD/NS;

Văn bản ủy quyền số 29/2017/UQ-CT, ngày 22/6/2017;

Điều lệ Ngân hàng;

Vận đơn gửi thư.

3.2. Tài liệu, chứng cứ bị đơn cung cấp: Bản sao chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị B.

3.3. Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được: Biên bản ghi lời khai ngày 03/4/2018.

4. Tại phiên tòa sơ thẩm;

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;

Bị đơn vắng mặt;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G, có ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như các đương sự chấp hành đúng trình tự, thủ tục tố tụng do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà B trả nợ vay từ Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng. Bà B cư trú tại Phường M, quận G. Căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận G.

Về người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Yêu cầu của nguyên đơn phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bà Nguyễn Thị B được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự nêu trên.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ lời khai của đương sự cũng như căn cứ tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Ngày 23/10/2014, bà B có ký Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng với Ngân hàng.

Sau khi Tòa án ban hành thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bà B là người trực tiếp nhận các văn bản tố tụng nhưng không nộp (gửi) cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình và không nộp các tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) để phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Điều đó thể hiện bà B còn nợ Ngân hàng số tiền 20.227.000 đồng (gồm tiền nợ gốc còn lại là: 13.001.432 đồng, số tiền lãi còn lại là 7.225.568 đồng). Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu bà B trả một lần số tiền 20.227.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngân hàng không yêu cầu bà B trả tiền lãi tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng buộc bà B trả tiền lãi do chậm trả tiền theo quy định khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Các bên thỏa thuận lãi suất trong hợp đồng là 5%/tháng nhưng Ngân hàng chỉ yêu cầu bà B trả tiền lãi theo quy định khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có lợi cho bà B nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm nộp án phí khi khởi kiện.

Bị đơn phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Cụ thể, bà B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 20.227.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm phải nộp là 5% giá trị tài sản có tranh chấp là 1.011.350 đồng.

Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V

Bà Nguyễn Thị B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 20.227.000 (Hai mươi triệu, hai trăm hai mươi bảy ngàn) đồng theo Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20141105-100173-0020.

Trả tiền một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng thương mại cổ phần V được nhận lại số tiền tạm nộp án phí khi khởi kiện là 505.675 (Năm trăm lẽ năm ngàn, sáu trăm bảy mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0028586, ngày 07/02/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận G.

Bà Nguyễn Thị B phải nộp 1.011.350 (Một triệu, không trăm mười một ngàn, ba trăm năm mươi) đồng.

3. Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ