vanban.org

Bản án 302/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Minh L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Minh L được ly hôn với anh Nguyễn Văn K; Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 05/6/2020 cho chị L nuôi dưỡng. Anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị L và anh K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Minh L.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 302/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13 tháng 4 năm 2023
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Ni.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bé Ba.

2. Ông Nguyễn Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Trịnh Minh L, sinh năm 1999;

Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện A, tỉnh Tiền Giang.

2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Ấp D, xã E, huyện A, tỉnh Tiền Giang.

(Vắng mặt chị L, anh K)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 30/01/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trịnh Minh L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn K chung sống với nhau năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện A, tỉnh Tiền Giang vào ngày 15/5/2020. Thời gian vợ chồng chung sống chung có mâu thuẫn về tiền bạc và chị mâu thuẫn với mẹ chồng nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đến năm 2020, chị sinh con thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn do anh K thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc và kkhông lo cho vợ con. Anh K có đánh chị ba lần, đánh vào mặt không gây thương tích. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh K.

Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 05/6/2020. Chị L yêu cầu giao con cho chị nuôi dưỡng, yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều đúng theo trình tự do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trịnh Minh L; giao con chung là Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 05/6/2020 cho chị L nuôi dưỡng, anh K cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày và phát biểu tranh luận của đương sự, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Chị Trịnh Minh L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn K nên đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tố tụng:

Ngày 14/3/2023, nguyên đơn chị Trịnh Minh L có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Nguyễn Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh vắng mặt mà không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Minh L và anh Nguyễn Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình, huyện A, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy, từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa xét xử hôm nay, Tòa án đã triệu tập anh K đến Tòa án nhưng anh vắng mặt không có lý do và không đưa ra được một biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng nên anh đã mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng đoàn tụ với nhau. Chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Đời sống vợ chồng giữa anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, cả hai không còn yêu thương quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 01 con chung là Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 05/6/2020. Chị L yêu cầu giao con chung cho chị nuôi dưỡng. Xét thấy, Nguyễn Trần Thiên M đang sống với chị L, vì vậy để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện, ổn định về tâm lý và cuộc sống của cháu thì Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu cho chị L nuôi dưỡng, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị L yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng. Xét thấy, chị L có quyền yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên và mức cấp dưỡng chị L yêu cầu là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, yêu cầu của chị L được Hội đồng xét xử chấp nhận theo Điều 83, Điều 110 và diều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện A là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị L pK chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật. Anh K phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110 và 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Minh L.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Minh L được ly hôn với anh Nguyễn Văn K;

- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 05/6/2020 cho chị L nuôi dưỡng. Anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Thời gian thực hiện từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Kể từ bản án có hiệu lực pháp luật, chị L có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền cấp dưỡng, nếu anh K chậm thi hành án, thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

Anh K có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

2. Về án phí:

Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, chị đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0025605 ngày 09/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, nên chị đã nộp xong. Anh K pK chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

3. Về quyền kháng cáo: Chị L và anh K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ