vanban.org

Bản án 302/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 10/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Hoàng D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Nguyễn Hoàng D 02 năm 06 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2022 Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Hoàng D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 302/2022/HS-ST
Ngày 10/11/ 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tạc

Bà Nguyễn Thị Bạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Trang là Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Châu Phước Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 288/2022/TLST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng D; tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16 tháng 01 năm 2001; tại Đắk Lắk. Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố 3, phường KX, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Không. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông Nguyễn Văn D1, sinh năm: 1965. Con bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1969. Bị cáo chưa có vợ, con.

Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2022 cho đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang H1 (vắng mặt)

Trú tại: 168 YN, phường Ea Tam, TP Buôn Ma Thuột

Người làm chứng:

1/ Ông Đoàn Văn T (vắng mặt)

Trú tại: Tổ dân phố 4, phường TN, TP Buôn ma Thuột

2/ Ông Vũ Đức N (vắng mặt)

Trú tại: Tổ dân phố 4, phường TN, TP Buôn ma Thuột

NỘI DNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tại phiên tòa, nội Dng vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng D là người sử dụng chất ma tuý loại Cần sa, để có tiền tiêu xài cá nhân và ma túy để sử dụng. Ngày 10/5/2022, D sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 6 gắn sim số 0396783181 gọi cho một người nam giới tên Long (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) qua số thuê bao 0964154747 hỏi mua 1.700.000 đồng ma tuý loại Cần sa thì Long đồng ý bán và hẹn D đến khu vực đường Y Wang, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột. Sau đó, D điều khiển xe mô tô biển số 47B1-52633 đi đến, gặp và mua của Long 20 gói ma tuý loại Cần sa với số tiền là 1.700.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, D cất giấu trong cốp xe mô tô 47B1-52633 mục đích để sử dụng và có ai hỏi mua sẽ bán mỗi gói 200.000 đồng. Đến ngày 17/6/2022, D đã sử dụng hết 18 gói ma tuý loại Cần sa, còn lại 02 gói D tiếp tục cất giấu trong cốp xe mô tô 47B1-52633. Khoảng 14 giờ cùng ngày, có một người nữ giới sử dụng số thuê bao 0916641231 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) liên lạc cho D qua số thuê bao 0396783181 hỏi mua ma tuý loại Cần sa với số tiền 400.000 đồng. D đồng ý và hẹn đến khu vực siêu thị Go thuộc phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, để bán. Sau đó, D cất giấu 02 gói ma tuý loại Cần sa và điều khiển xe mô tô 47B1-52633 đi đến điểm hẹn, thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Buôn Ma Thuột, bắt quả tang cùng tang vật và được niêm phong theo đúng quy định.

Tại Kết luận giám định số: 577/KL-KTHS ngày 24/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Thảo mộc khô đựng trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định có chứa chất Ma túy, tổng khối lượng 1.8536gam, loại Cần sa.

Tại bản cáo trạng số: 299/KL-KTHS ngày 13/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự .

Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Buôn Ma Thuột vẫn giữ nguyên bản cáo trạng số: 299/KL-KTHS ngày 13/10/2022 và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Đề nghị xử phạt: Nguyễn Hoàng D từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 1,4028 gam ma tuý, loại Cần sa còn lại sau giám định và bao gói đựng gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong bì thư số: 577/KL-KTHS ngày 24/6/2022 ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Hoàng D”

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei 35695406524257, gắn sim số 0396783181, là tài sản của Nguyễn Hoàng D sử dụng vào việc phạm tội.

Chấp nhận cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Nguyễn Quang H1 nhận quản lý, sử dụng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển số 47B1-526.33, số khung: RLSC5C641DY033406, số máy: 5C641033418.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội Dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng D đã thừa nhận hành vi của mình như nội Dng bản cáo trạng. Vào ngày 17/6/2022, tại khu vực trước siêu thị Go, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, Nguyễn Hoàng D có hành vi cất giấu trái phép 1,8536 gam chất ma tuý loại Cần sa, mục đích để bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Do đó, có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét tính chất của vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của nhà nước và các chất ma túy và gây ảnh hưởng xấu cho xã hội về nhiều mặt, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân dẫn đến làm lan truyền các căn bệnh xã hội, trong đó có đại dịch HIV/AIDS. Bị cáo có đủ khả năng để nhận thức được chất ma túy Cần sa (nằm trong Danh mục II, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ) là loại ma túy có sự gây nghiện cao thuộc sự quản lý độc quyền của nhà nước, việc mua bán, tàng trữ không được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là vi phạm phạm pháp luật. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi cố ý gây ra.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của “Mua bán trái pháp chất ma túy” của bị cáo Nguyễn Hoàng D không vi phạm tình tiết định khung do vậy chỉ xét xử tại khoản 1 điều 251 BLHS.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

1. “Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Về các tình tiết tăng nặng: Không có

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy rằng: bị cáo Nguyễn Hoàng D có nhân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Như vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. HĐXX cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, xử lý vật chứng trong vụ án là phù hợp cần chấp nhận.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 1,4028 gam ma tuý, loại Cần sa còn lại sau giám định và bao gói đựng gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong bì thư số: 577/KL-KTHS ngày 24/6/2022 ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Hoàng D”

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei 35695406524257, gắn sim số 0396783181, là tài sản của Nguyễn Hoàng D sử dụng vào việc phạm tội.

Chấp nhận cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Nguyễn Quang Huy nhận quản lý, sử dụng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển số 47B1-526.33, số khung: RLSC5C641DY033406, số máy: 5C641033418.

Trong vụ án này, đối với đối tượng nam giới tên Long sử dụng số thuê bao 0964154747 bán ma tuý cho bị cáo Nguyễn Hoàng D và người nữ giới sử dụng số thuê bao 0916641231 liên hệ mua ma tuý của D. Quá trình điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có công văn gửi nhà mạng Viễn thông di động thu thập thông tin nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi của các đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với số ma tuý loại Cần sa, quá trình điều tra Nguyễn Hoàng D khai nhận đã sử dụng hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với anh Nguyễn Quang Huy là người cho bị cáo Nguyễn Hoàng D mượn chiếc xe mô tô biển số 47B1-52633 nhưng anh Huy không biết việc D sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Tuyên bố: Nguyễn Hoàng D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Nguyễn Hoàng D 02 năm 06 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2022

Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 1,4028 gam ma tuý, loại Cần sa còn lại sau giám định và bao gói đựng gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong bì thư số: 577/KL-KTHS ngày 24/6/2022 ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Hoàng D”

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei 35695406524257, gắn sim số 0396783181, là tài sản của Nguyễn Hoàng D sử dụng vào việc phạm tội.

Chấp nhận cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Nguyễn Quang Huy nhận quản lý, sử dụng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển số 47B1-526.33, số khung: RLSC5C641DY033406, số máy: 5C641033418.

(Có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự TP. Buôn Ma Thuột ngày 28/10/2022).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hoàng D phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ