- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc Hoàn - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 302/2021/HSST Ngày: 25-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Kim Thành
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hạnh - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 306/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Quốc H; sinh năm 1986 tại tỉnh Nam Định; đăng ký hộ khẩu thường trú: số 29 đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở: ngõ 219 đường M, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn L và bà Phạm Thị H; đã ly hôn vợ, có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 31-8-2005 Công an thành phố N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị bắt, tạm giữ ngày 14-8-2021, chuyển tạm giam ngày 23-8-2021; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 14-8-2021, tổ công tác Công an phường Văn Miếu, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ 219 đường M, phường M thành phố N kiểm tra hành chính đối với Phạm Quốc H đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn. H tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (1 x 1)cm giao nộp; mở kiểm tra bên trong có chứa tinh thể dạng rắn màu trắng (H khai là gói ma túy đá). Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả đối với Phạm Quốc H.
Bản Kết luận giám định số 1131/GĐKTHS ngày 18-8-2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng, kích thước khoảng (1 x 1)cm thu giữ của Phạm Quốc H được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại ma túy: Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,369 (không phảy ba trăm sáu mươi chín) gam.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Quốc H khai: Khoảng 09 giờ ngày 14-8-2021, H đang ở nhà trọ tại ngõ 219 đường M, phường M thành phố N thì có Phúc (là bạn nghiện, mới quen, không rõ lai lịch địa chỉ) điều khiển xe máy (không nhớ biển kiểm soát) đến gặp và đưa cho H 300.000 đồng bảo đi mua ma túy đá về cùng sử dụng. H cầm tiền và bảo Phúc chở đi mua ma túy đá. Phúc điều khiển xe máy chở H đến đầu ngõ 148 đường K thì dừng xe đứng đợi. H đi bộ một mình vào trong ngõ đến nhà Tuấn (không nhớ địa chỉ cụ thể), đứng ở ngoài cổng gọi hỏi mua ma túy đá và đưa 300.000 đồng qua ô cổng, người trong nhà nhận tiền rồi đưa lại cho H 01 gói ma túy đá được gói bằng túi ni lông màu trắng, kích thước khoảng 01 x 01 cm. H cầm gói ma túy đá cất vào trong túi quần bên phải, rồi đi ra chỗ Phúc đang đứng đợi bảo Phúc chở đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đầu ngõ 219 đường Mỹ Xá, Phúc dừng xe bảo H về nhà trọ trước Phúc đi có chút việc, sau đó Phúc điều khiển xe đi đâu H không biết. Khi H đi bộ đến nhà trọ trong ngõ 219 đường Mỹ Xá phường Mỹ Xá thành phố N thì bị phát hiện, bắt giữ.
Cơ quan điều tra Công an thành phố N tiến hành xác minh tại khu vực ngõ 148 đường K phường L thành phố N xác định không có người tên Tuấn cư trú ở khu vực trên.
Bản Cáo trạng số 308/CT-VKSTPNĐ ngày 04-11-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Phạm Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Quốc H khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quốc H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Phạm Quốc H, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 1131/GĐKTHS ngày 18-8-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 14-8-2021, tại khu vực ngõ 219 đường M, phường M thành phố N, Phạm Quốc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,369 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định H lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với đối tượng tên Tuấn và Phúc, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Phạm Quốc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14-8-2021.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 1131/GĐKTHS (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng).
3. Án phí: Bị cáo Phạm Quốc H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Quốc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện ện |