vanban.org

Bản án 302/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 18/04/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 345/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Long Biên và giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm về phần xử lý hình sự đối với bị 4 cáoLê Đình T, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? - Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Bộ luật hình sự xử miễn trách nhiệm hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 25 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------
Bản án số: 302/2019/HS-PT
Ngày: 18/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-------------------------------------------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI!

-!Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Vũ Quang Huy

Các Thẩm phán:Ông Phạm Năng Thành

Ông Phan Huy Cương

-!Thư!ký!phiên!toà:Nguyễn Ngọc Hải-Thư ký Toà án;

-!Đại!diện!Viện!kiểm!sát!nhân!dân!thành!phố!Hà!Nội!tham!gia!phiên! toà:!Bà Phạm Thị Liên- Kiểm sát viên.

Ngày18 tháng 4năm 2019, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội,xét xửphúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 34/2019/TLPT- HS ngày07/1/2019 đối với bị cáo:Lê Đình Tdo có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biênđối với Bản án hình sự sơ thẩm số 345/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dânquận Long Biên,thành phố Hà Nội: !

*! Bị! cáobị! kháng! nghị:Lê! Đình! T,sinh năm 1981, tại Hà Nội; Nơi cư trú:Xóm 6 xã HT, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông:Lê Đình G (đã chết), con bà Lê Thị O; Vợ là Triệu Thị Thu H và có 01 con;Danh chỉ bản số: 550 lập ngày 28/9/2018 tại Công an quận Long Biên; Tiền án: chưa có;Tiền sự: chưa có; Nhân thân: 01 bản án 205/2017/HSST ngày 13/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Bị bắt từ ngày 12/9/2015 đến ngày 21/9/2015; Hiện đang thi hành án vụ án khác tại Trại giam VQ – Bộ Công an; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 12/9/2015, Tổ công tác thuộc Đại đội 3 Trung đoàn cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường Quốc lộ IB thuộc tổ 17, phường TB, LB, Hà Nội phát hiện xe ô tô BKS: 29L-2136 đang dừng đỗ ven đường có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác đã T hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lê Đình T ngồi ghế phụ trên xe ô tô trên

4

T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu của T gồm: 01 gói nilông màu vàng bên trong có chứa cục bột màu trắng đục (T khai là heroin),01 điện thoại Philip màu đen lắp 02 sim. Người điều khiển xe ô tô là Vũ Xuân Th(sinh năm 1975, HKTT: số 5, phường TT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên). Tổ công tác đã đưa Lê Đình T và Vũ Xuân Th cùng tang vật về trụ sở cơ quan Công an để xác minh làm rõ.

Tại Bản kết luận giám định số 6690/KLGĐ-PC54 ngày 09/10/2015 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: 01 gói chất bột màu trắng có thành phần Heroin, trọng lượng bột: 0,103 gam; hàm lượng Heroin: 44,81%.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên, Lê Đình T khai nhận:Khoảng 13h ngày 11/9/2015, T đi một mình từ phòng trọ đến bến xe Thái Nguyên tìm mua ma túy đề sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy heroinvới giá 250.000 đồng. Sau đó, T mang gói ma túy vừa mua được về nhà sử dụng một phần nhỏ trong gói ma túy trên, số ma túy còn lại T lấy mảnh nilông màu vàng gói lại rồi cất vào túi quần phía trước bên phải T đang mặc. Đến 17h cùng ngày, Vũ Xuân Th - SN: 1975, trú tại: tổ 5, phường TT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên rủ T đi Hà Nội để mua xe ô tô. T đồng ý rồi cùng Th đi xe ô tô khách từ Thái Nguyên đến Sóc Sơn - Hà Nội để mua xe ô tô. Mua được xe ô tô Th lái xe chở T về nhà. Khi xe ô tô của Th đi đến quốc lộ 1B thuộc địa phận tổ 17, phường TB, LB, Hà Nội thì xe ôtô hết xăng nên Th dừng xe và nhờ người đi mua xăng. Đến 0hl5’ ngày 12/9/2015, khi Th và T ngồi chờ người đi mua xăng về thì bị cơ quan Công an kiểm tra. Quá trình kiểm tra Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang T tàng trữ gói ma túy nêu trên. Tại chỗ T khai gói ma túy là của T mua đế sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã lập biên bản niêm phong tang vật và đưa T cùng tang vật về trụ sở đế làm rõ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2018/HS-ST ngày 16/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Long Biênđã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Đình Tphạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm2015, xử miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáoLê Đình T. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo (các nội dung này không có kháng cáo và không bị kháng nghị).

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo; ngày 10/12/2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên có Quyết định kháng nghị số

2 02/QĐ-VKS-LBkháng nghị Bản án hình sự nêu trên của Tòa án nhân dân quận Long Biên, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ ánvà xử phạt bị cáo như mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân đã đề nghị tại phiên tòa sơ thẩm (từ 12 đến 15 tháng tù).

*Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa giữ nguyên kháng nghị và phát biểu ý kiến:Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên là đúng về thẩm quyền; hình thức, nội dung kháng nghị phù hợp với quy định của pháp luật, do đó quyết định kháng nghị trên là hợp lệ, cần được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015 xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là không có căn cứ pháp luật, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tố tụng:

Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên là đúng thẩm quyền, được ban hành đúng thời hạn luật định; hình thức, nội dung kháng nghị phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, kháng nghị trên là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo, nhưng doLê Đình T đang thi hành án phạt tù trong một vụ án khác tại Trại giam VQ– Bộ Công an nên không tham gia phiên tòa phúc thẩm được. Xét thấy, bị cáo đã có đầy đủ các lời khai trong quá trình điều tra và tạiphiên tòa sơ thẩm, việc vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định của Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.

.Về nội dung:

Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòasơ thẩm, phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 0 giờ 15phút ngày 12/9/2015, tại khu vực ven đường Quốc lộ 1B thuộc địa phận tổ 17 phường TB, quận LB, thành phố Hà Nội,Lê Đình Tđangcó

3 hành vi cất giấu trái phép trong ô tô mang biển kiểm soát 29L-2136, 01 gói nilong màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng cân nặng 0,103 gam, hàm lượng Heroin là 44,81 %(tương đương với 0,0461 gam Heroin tinh chất)thì bị Tổ công tác thuộc Đại đội 3 Trung đoàn cảnh sát cơ động - Công an thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm luật hình sự, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên:

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo tàng trữ trái phép01 gói bột màu trắng cân nặng 0,103 gam, hàm lượng Heroin là 44,81% (khối lượng Heroin tinh chất bị cáo tàng trữ trái phép là 0,0461gam). Bị cáo khai, cất giấu số ma túy trên để sử dụng cho bản thân, không có mục đích mua, bán kiếm lời; nhân thân bị cáo chưa bị xử lý về các hành vi liên quan đến ma túy. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT ngày 24/12/2007 của Bộ Công an – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao – Bộ Tư pháp(là văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm bị cáo phạm tội) hành vi của bị cáo chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó,Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là đúng pháp luật.

Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên về việc đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáovà giữ nguyên các quyết định của Bản án sơ thẩm về phần xử lý hình sự đối với bị cáoLê Đình T.

. Về các nội dung khác:

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 345/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Long Biên và giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm về phần xử lý hình sự đối với bị

4 cáoLê Đình T, cụ thể như sau:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 194; khoản 1 Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999.

- Xử: Miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Đình Tvề tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bịkháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

! !

Cỡ chữ