- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ D.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 302/2019/HNGĐ-ST Ngày: 16-8-2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thanh
2. Ông Bùi Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2019/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số nhà C, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt)
2. Bị đơn: Hà Thanh B, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ 07, ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ D và anh Hà Thanh B được mai mối và được cha mẹ tổ chức lễ cưới vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V vào ngày 23-4-2011. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung với gia đình của anh B được 01 năm thì chị D về nhà cha mẹ ruột sống để chăm sóc mẹ bệnh vì chị là con duy nhất, anh B vẫn ở chung với cha mẹ anh B, vợ chồng thường xuyên qua lại thăm nhau. Vợ chồng sống hạnh phúc khoảng hơn một năm thì phát sinh nhiều bất đồng, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau nên vợ chồng luôn bất hòa, mỗi lần gặp nhau thường hay cãi vả, cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc. Vào tháng 5/2018, chị D đã gửi đơn ly hôn nhưng qua hòa giải chị đã rút đơn để vợ chồng hàn gắn lại tình cảm, tuy nhiên thời gian qua mâu thuẫn giữa chị và anh B ngày càng nhiều, chị không còn tình cảm với anh B nên yêu cầu ly hôn với anh B.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Hà Gia B1, sinh ngày 25-02-2012. Sau khi ly hôn, chị D yêu cầu được nuôi con, yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại đơn trình bày ý kiến ngày 30-5-2019, cháu Hà Gia B1 trình bày nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn.
* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Hà Thanh B nhưng anh B đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án tiến hành các thủ tục xác minh, lấy lời khai nhưng bị đơn không có mặt tại nhà khi cán bộ Tòa án đến, nên không lấy được lời khai của bị đơn.
* Tại phiên tòa:
- Chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh B, yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Anh B vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
+ Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ D, giao cháu B1 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, buộc anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Mỹ D và anh Hà Thanh B là tranh chấp về ly hôn và tranh chấp nuôi về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2 Thẩm quyền giải quyết: Tại biên bản xác minh ngày 26-6-2019, Công an xã V, huyện C, tỉnh An Giang xác định: Hà Thanh B hiện đang có đăng ký hộ khẩu tại ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang và hiện đang sinh sống thường xuyên tại địa phương. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: Chị D và anh B có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 38-KH, quyển số I, ngày 23-4-2011. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện để chị D và anh B được đoàn tụ, nhưng chị D cương quyết ly hôn, anh B đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị D, điều này chứng tỏ anh B cũng không có nguyện vọng được đoàn tụ với chị D. Ngoài ra vào tháng 5/2018, chị D đã gửi đơn ly hôn nhưng để tạo điều kiện cho hàn gắn tình cảm vợ chồng nên đã rút đơn, tuy nhiên mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng nhiều dẫn đến chị D cương quyết ly hôn. Như vậy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.
2.2 Về con chung: Chị D trình bày anh chị có 01 con chung tên Hà Gia B1, sinh ngày 25-02-2012. Cháu B1 trình bày nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Tại phiên tòa, chị D cũng có nguyện vọng được nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy, để cho cuộc sống của cháu được ổn định, không bị xáo trộn nên theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu B1 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, anh B không có ý kiến trình bày. Tuy nhiên đây là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình buộc anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu B1, mức cấp dưỡng bằng ½ mức lương tối thiểu tại từng thời điểm cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu B1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, tiền cấp dưỡng do chị D đại diện nhận.
Chị D và gia đình phải tạo điều kiện cho anh B trong việc thực hiện nghĩa vụ, quyền của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.Việc nuôi con có thể bị thay đổi theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thị Mỹ D là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
- Anh Hà Thanh B phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ D.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với anh Hà Thanh B. Giấy chứng nhận kết hôn số 38-KH, quyển số I ngày 23-4-2011 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
- Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ D được quyền nuôi con chung tên Hà Gia B1, sinh ngày 25-02-2012.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hà Thanh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hà Gia B1, mức cấp dưỡng bằng ½ mức lương tối thiểu tại từng thời điểm cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu B1 tròn 18 tuổi và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, tiền cấp dưỡng do chị D đại diện nhận.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con có thể bị thay đổi dựa trên cơ sở lợi ích của con.
2. Về án phí sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014250 ngày 17-4-2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Anh Hà Thanh B1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. uyền háng cáo: Chị Nguyễn Thị Mỹ D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16-8-2019). Anh Hà Thanh B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bàn án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Giao |